LÀM SAO SỐNG BẬN MÀ KHÔNG RỘN ?


Bận Rộn làm cho ta không có bình an và hạnh phúc
Bận Rộn làm cho sự hành xử của ta vụng về
Bận Rộn làm cho cái hiểu biết của ta khô cằn
Bận Rộn làn cho sự sống của ta ngắn lại
Bận Rộn khiến ta không thấy được cái đẹp của người ta thương yêu
Bận Rộn khiến ta đi trên đường trông như bị ma rượt …
Đời sống bận rộn là đời sống … bất hạnh nhất trên đời …!
Thế đấy, nhưng con người ai ai cũng luôn tìm đủ mọi lý do để mà … Bận
Rộn. Và rồi một ngày kia, thử hỏi có ai mang theo được cái “Bận Rộn” về bên
kia thế giới ?
Hãy biết dừng lại. Hãy biết ngơi nghỉ. Hãy tập thanh thản và buông xả.
Thảnh thơi thì khi cái ngày ấy đến, chúng ta mới có thể ra đi với cái tâm
Không Bận Rộn.
Dường như chúng ta, ai ai cũng luôn tự tìm cho mình một “lý do” để mà
bận rộn, mà chưa hề bao giờ biết cách “nếm” được hương vị cuộc sống của
mỗi ngày. Tôi chợt nhớ đến cô tôi, cô cũng đã bảo tôi câu này khi bác sĩ cho
biết là cô chỉ còn vài tháng để sống, và cô đã nói với tôi “Mỗi người đều có
số phần, cô cũng mừng là cô biết mình còn “vài tháng”, ít nhất cô cũng sẽ có
được vài tháng sống trong bình an, không vội vã…”
Tôi nhớ một bài hát mà tôi rất thích :
“… Nếu chỉ còn một ngày để sống
Chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp
Phải chăng ta sống quá vội vàng
Nên ra đi chưa được bình an …”
Đúng thật, cả một đời tôi luôn sống quá vội vàng, thì làm sao có thể ra đi
bình an?
TIẾNG LÒNG

NHÂN LÀNH BAN ĐẦU CỦA SỰ TU TẬP

Khi ta đặt niềm tin kính trọng của mình lên bậc Thánh thì dần dần chúng
ta sẽ thành tựu những phẩm chất cao quý của một bậc Thánh như thế. Ví dụ
như ta biết có một vị Thánh tu hành chân chính đắc đạo mà ta thường khởi
lòng kính ngưỡng thì nhân cách của ta sẽ thay đổi theo từng ngày. Bỗng
nhiên ta hiền lành hơn, bớt nóng giận hơn, bao dung hơn, từ bi hơn, sâu sắc
hơn, làm nhiều việc thiện hơn và hiểu kinh điển một cách sâu sắc hơn. Đó là
những phẩm chất Thánh từ từ thành tựu trong lòng ta, bởi vì ta có lòng tin
kính, lòng kính trọng với một bậc Thánh nào đó.
Lòng kính trọng của một người dâng lên bậc Thánh nhân chính là nhân
quả ban đầu của sự tu hành. Nếu ta không có lòng kính trọng một bậc Thánh
thì không bao giờ những phẩm chất Thánh xuất hiện trong tâm hồn ta. Nếu
ta tu tập theo Chánh Pháp mà không xuất hiện những phẩm chất Thánh
trong tâm hồn thì mãi mãi mình chỉ là một phàm phu tầm thường, hẹp hòi,
ác độc, ích kỷ và sẽ tiếp tục trôi lăn trong luân hồi vô tận, đầy đau khổ này.
Và để thoát khỏi sinh tử luân hồi, chúng ta buộc phải có đức hạnh của
một bậc Thánh. Để thành tựu được những phẩm hạnh đó, chúng ta phải trải
qua quá trình dày công tu tập chứ không phải một sớm một chiều mà đã
hiện ra. Vì đạo đức là tổng hòa của nhiều đức tính khác nhau chứ không đơn
giản chút nào.
Và mỗi người chúng ta đều là đệ tử Phật thì điều căn bản ban đầu vẫn là
lòng tôn kính Phật. Lòng tôn kính Phật chính là nền tảng đầu tiên mở ra
muôn vàn đạo đức khác trong cuộc sống. Ai thành tựu được lòng tôn kính
Phật tuyệt đối là người này đã mang tính chất của Thánh trong tâm hồn.
Trích “LÒNG TÔN KÍNH PHẬT VÔ BIÊN”

HỌC IM LẶNG LÀ HỌC CHÁNH NGỮ

Đức Thế Tôn đã thường thực tập chánh ngữ, và có lúc ngài đã im lặng
khi có người hỏi những câu có vẻ lý thuyết, vì ngài biết trong trường hợp
đó, nếu trả lời thì người hỏi cũng không thâu lượm được gì.
Ví như một hôm có một nhà triết học đến hỏi đức Thế Tôn về hữu và về
vô, đức Thế Tôn chỉ ngồi yên lặng, không trả lời. Một lần khác, một nhà triết
học khác hỏi ngài rằng có ngã hay không, đức Thế Tôn cũng chỉ im lặng.
Một lát sau ông ta lại hỏi: Vậy có nghĩa là không có ngã phải không bạch
đức Thế Tôn?
Ngài cũng im tiếng. Tại vì đức Thế Tôn biết rằng ngôn ngữ trong trường
hợp này sẽ không giúp được gì cho nhà triết học kia, cho nên ngài im lặng,
và cái im lặng của ngài là im lặng sấm sét.
Nói năng đúng với chánh pháp và im lặng đúng với chánh pháp, đó là
nguyên tắc của chúng ta. Khi nói thì chúng ta nói đúng với chánh pháp,
nhưng khi im lặng, chúng ta cũng phải im lặng đúng với chánh pháp. Nghĩa
là cái im lặng của chúng ta có thể là một bài thuyết pháp. Học im lặng là học
chánh ngữ.
~T.S. Nhất Hạnh

NGHÈO CHƯA HẲN LÀ HÈN

Một lần, nhà từ thiện Kenneth Belling đi ngang qua khu vịnh San
Francisco, Hoa Kỳ vào những năm 1990 của thế kỷ 20, đột nhiên ông thấy
mình đánh rơi chiếc ví khi nào không hay. Trợ lý của ông đã lo lắng nói:
“Có lẽ chiếc ví đã bị rơi khi chúng ta đi bộ qua các khu nhà ổ chuột ở
Berkeley vào buổi sáng, giờ chúng ta phải làm gì?”
Belling miễn cưỡng nói:
“Chỉ có thể chờ người nhặt được ví tiền gọi lại cho chúng ta mà thôi.”
Mấy giờ qua đi, người trợ lý thất vọng nói:
“Thôi, chúng ta đừng chờ nữa, đừng hy vọng gì ở những người sống
trong khu nhà ổ chuột.”
Tuy nhiên, ông Belling lặng lẽ nói:
“Không, tôi vẫn muốn chờ đợi xem thế nào.”
Người trợ lý nghe thấy vậy thì rất ngạc nhiên:
“Trong ví có danh thiếp của ngài, nếu muốn trả lại thì họ đã gọi rồi, chỉ
mất vài phút thôi. Tuy nhiên, chúng ta đã chờ đợi cả một buổi chiều mà vẫn
không thấy tin tức gì. Dường như người nhặt được không có ý định trả lại.”
Tuy nhiên, Belling vẫn khăng khăng chờ đợi. Trời bắt đầu tối và điện
thoại vang lên. Cuộc điện thoại này là của người nhặt được chiếc ví. Người
đó nói là đợi ông trên đường Kata.
Thấy vậy, người trợ lý hét lên:
“Hãy cẩn thận! Đây có phải là cái bẫy không? Liệu có phải họ muốn gõ
cửa tống tiền?”
Belling vẫn bỏ qua lời cảnh báo và lái xe đi. Ông tới nơi thỏa thuận thì
một cậu bé mặc chiếc áo rách, trên tay cậu cầm chiếc ví tiến lại gần. Người
trợ lý vội cầm lấy chiếc ví và kiểm tra, anh thấy bên trong vẫn còn nguyên
số tiền. Chờ đợi một lát, cậu bé ấp úng nói:
“Cháu có một lời cầu xin, các ngài có thể cho cháu một ít tiền không?”
Lúc này, người trợ lý cười lớn: “Biết ngay mà …”
Belling vội ngắt lời trợ lý rồi mỉm cười hỏi cậu bé muốn bao nhiêu.
“Chỉ cần cho cháu xin 1 đô-la thôi.” Cậu bé ngượng ngùng nói: “Cháu đã
tìm kiếm rất lâu để đến được bốt điện thoại công cộng nhưng không có tiền,
cháu phải vay 1 đô-la để thực hiện cuộc gọi.”
Nhìn vào đôi mắt trong sáng ngây thơ của cậu bé, người trợ lý đã phải
cúi đầu vì cảm thấy xấu hổ. Còn Belling đã vội ngồi xuống ôm cậu bé vào
lòng.
Hành động này của cậu bé đã khiến Belling thay đổi kế hoạch từ thiện.
Ông quyết định xây mấy trường học ở Berkeley để các bé nghèo không có
tiền đi học được đến trường.
Trong ngày khai giảng, Belling nói:
“Chúng ta không nên tự phán xét về người khác. Chúng ta cần tạo ra
không gian và cơ hội để đón tiếp học sinh có tâm hồn thuần khiết và tốt
bụng. Điều này rất đáng để chúng ta đầu tư.”
Sưu Tầm

HƯỚNG ĐẾN ÁNH SÁNG


Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến
đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn nói với vua Pasenadi đang ngồi xuống một bên:
Thưa đại vương, có bốn hạng người này có mặt, hiện diện ở đời.
Thế nào là bốn?
Hạng người sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối.
Hạng người sống trong bóng tối và hướng đến ánh sáng.
Hạng người sống trong ánh sáng và hướng đến bóng tối.
Hạng người sống trong ánh sáng và hướng đến ánh sáng.
(Tương Ưng Bộ I, chương 3, phẩm 3, phần)
LỜI BÀN:
Mỗi người được sinh ra ở trên đời với một thân phận, hoàn cảnh khác
nhau. Họ không có quyền chọn lựa cho mình nơi để sinh ra vì đó là nghiệp
dĩ. Tuy nhiên, con người hoàn toàn có thể phấn đấu cải tạo nghiệp lực,
chuyển hóa thân tâm và hoàn cảnh theo hướng tích cực, tốt đẹp hơn. Cuộc
sống là một quá trình đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Và tất nhiên không
phải ai cũng đạt đến thành công trong việc tự hoàn thiện mình. Do đó, mỗi
người cần nỗ lực hướng thiện bền bỉ và liên tục.
Theo tuệ giác Thế Tôn, có hạng người thiếu phước “sống trong bóng tối
và hướng đến bóng tối” sinh ra trong đói khổ, thất học, thiếu vắng tình
thương và từ đó không tìm ra lối đi sáng sủa cho cuộc đời mình. Nếu không
phải là tội phạm thì họ cũng không đoan chánh, không có niềm tin và chẳng
tạo ra được chút phước lành nào trong đời. Hạng người này thật đáng
thương và rất cần sự trợ duyên, đùm bọc của xã hội.
Hạng người thứ hai “sống trong bóng tối và hướng đến ánh sáng” cũng
xuất thân từ đói khổ, bất hạnh nhưng nhờ còn chút phước duyên nên gặp
được thiện tri thức và biết phấn đấu vươn lên từ đói nghèo để đi đến thành
công. Chuyện những cô Tấm và nàng Lọ Lem thời hiện đại cùng những tấm
gương vượt khó của họ thật đáng cho chúng ta suy gẫm để học tập, noi theo.
Thế nhưng lại có hạng người “sống trong ánh sáng và hướng đến bóng
tối”. Tuy xuất thân trong môi trường tốt, gia đình danh giá nhưng vì lười
biếng và ỷ lại cùng với thói quen hưởng thụ, một bộ phận không nhỏ thanh
thiếu niên rơi vào sa đọa, nghiện ngập và trở thành tội phạm. Họ không làm
được gì giúp cho bản thân và gia đình mà còn trở thành gánh nặng cho xã
hội.
Hạng người sau cùng “sống trong ánh sáng và hướng đến ánh sáng” vốn
đầy đủ phước duyên. Họ nhờ những thuận duyên ngay từ nhỏ để phấn đấu
học tập, tu dưỡng đạo đức và trở thành người tài đức vẹn toàn.
Một xã hội, đất nước mà tích tụ được nhân tài từ hai hạng người hướng
đến ánh sáng như lời Phật dạy thì chắc chắn đất nước ấy đang thực sự phát
triển, đi lên trong sự thịnh vượng bền vững, dài lâu.
QUẢNG TÁNH

MỌI SỰ VẬT ĐANG THUYẾT PHÁP

MỌI SỰ VẬT ĐANG THUYẾT PHÁP

  1. ĐỒNG HỒ nói: “Mỗi phút đều quý giá”
  2. GƯƠNG nói: “Hãy soi xét chính mình”
  3. TRẦN NHÀ nói rằng: “Hãy đặt mục tiêu cao”
  4. MÁY ĐIỀU HÒA bảo: “Tâm hồn mát mẻ là hạnh phúc”
  5. CỬA SỔ nói: ” Nhìn ra thế giới bên ngoài, mở rộng nhãn quan”
  6. CUỐN LỊCH nói: “Hãy sống trọn vẹn mỗi ngày”
  7. CÁNH CỬA nói: “Hãy mở ra và đón nhận những cơ hội”
  8. CÁI GHẾ nói “Hãy ngồi lên đây và bắt đầu công việc ngay”
  9. CÁI LOA nói: “Hãy luôn biết lắng nghe”
  10. NHỮNG QUYỂN SÁCH nói: “Hãy xem chúng tôi như nhà tư vấn bất
    cứ khi nào gặp khó khăn”
  11. TỦ SÁCH nói: “Hãy biết cách sắp xếp tri thức một cách thông minh.
    Cái gì quan trọng và thường dùng thì ở gần, ít quan trọng hơn thì ở xa”
  12. MÁY TÍNH nói: “Hãy biết tận dụng công nghệ để tăng tốc công việc
    và học tập”
  13. NỀN NHÀ nói: “Hãy tự tin vững bước”
  14. BỨC TƯỜNG: “Nếu mệt, hãy tựa lưng vào tôi làm điểm tựa để tiến
    lên!
  15. TƯỢNG PHẬT nói : ” Hãy biết quay về trong tĩnh lặng, sống an nhiên
    giữa những thăng trầm. ”
    Tỉnh Thức