MƯỜI THỨ TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC


Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã
đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng.
Có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã
nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người
đều tán thành. Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù
là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

  1. Khỏe mạnh – Đạt Lai Lạt ma:
    Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh
    tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại.
    Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên
    rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một
    lần sống thật tốt.
  2. Tình thương – Tagore:
    Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình
    nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm,
    bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!
  3. Niềm vui – Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh
    Mỹ Franklin:
    Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản
    chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại
    càng muốn nhiều hơn.
  4. Chính trực – Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
    Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào
    mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.
  5. Tôn trọng – Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
    Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính
    là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống
    là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình.
    Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa?
    Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa?
    Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm?
    Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui.
    Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng;
    là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền
    tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.
  6. Nội tâm thanh tĩnh – Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
    Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không
    thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa
    trở nên ý nghĩa.
  7. Đạo đức – Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
    Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên
    rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.
  8. Giáo dục – Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
    Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm
    và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo
    dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia
    sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông
    và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.
  9. Trí tuệ – Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
    Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn
    quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc
    ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không
    có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để
    kiểm chứng trí tuệ của mình.
  10. Giác ngộ tâm linh – Bodhi Mind:
    Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái
    nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một
    giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không
    mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua
    được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
    Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

LỜI HAY Ý ĐẸP

  1. Một cốc nước sạch vì một giọt nước bẩn mà trở nên vẩn đục,
    nhưng một cốc nước đục không thể vì một giọt nước sạch mà trở
    nên tinh khiết.
  2. Nếu Bạn thực sự tài năng thì Bạn sẽ không sợ mình không có
    may mắn.
  3. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.
  4. Trên đời không có sự phân biệt rõ ràng giữa bi kịch và hỷ kịch.
    Nếu Bạn có thể bước ra từ bi kịch, đó là hỷ kịch.
    Nếu Bạn chìm đắm mãi trong hỉ kịch, đó là bi kịch.
  5. Nếu không đọc sách, đi vạn dặm đường chẳng qua cũng chỉ
    là một người đưa thư.
  6. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.
  7. Bạn bè thực sự không phải là những người có thể ngồi với
    nhau nói chuyện cả ngày không hết mà là những người ngay cả
    khi chẳng nói với nhau câu nào vẫn không cảm thấy ngại ngùng.
  8. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường đất
    mềm, con người dễ ngã gục trong những lời đường mật.
  9. Đừng sợ rằng Bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng Bạn
    không chịu tìm hiểu về nó.
  10. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước.
    Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.
    Hy vọng với 10 câu nói hay của người Do Thái trên có thể giúp
    Bạn thay đổi và phát triển bản thân mỗi ngày, vượt qua mọi khó
    khăn trở ngại trong cuộc sống, để có một cuộc sống hạnh phúc và
    thành công hơn.

RỒI TÔI SẼ HẠNH PHÚC


Lúc tôi khoảng 14 tuổi, đang học trung học ở Luân Đôn. Cha mẹ và thầy
giáo khuyên tôi đừng đi chơi đá banh buổi tối và cuối tuần mà nên ở nhà học
bài để lo thi bằng trung học đệ nhất cấp.
Họ nói là khi thi đậu thì tôi sẽ cảm thấy sung sướng, hạnh phúc.
Tôi nghe lời, lo học và thi đậu, nhưng tôi chẳng thấy hạnh phúc gì cả, vì
sau đó phải học tiếp hai năm để thi tú tài.
Cha mẹ và các thầy giáo khuyên tôi đừng đi chơi với bạn bè buổi tối hoặc
chạy theo con gái cuối tuần mà nên ở nhà lo học bài.
Họ nói bằng tú tài rất quan trọng, nếu thi đậu thì tôi sẽ sung sướng, hạnh
phúc.
Một lần nữa, tôi lại vâng lời cha mẹ và các thầy giáo nên tôi thi đậu tú tài.
Nhưng lại một lần nữa, tôi chả thấy sung sướng gì hết, vì sau đó tôi phải
tiếp tục vào đại học, học ít nhất ba năm để lấy bằng cử nhân.
Má tôi và các giáo sư (lúc này ba tôi đã mất) khuyên tôi không nên lân la
ở các quán cà phê hoặc phòng trà, mà nên ở nhà lo học.
Họ nói bằng cử nhân là một bằng cấp giá trị của đại học, nếu có được thì
tôi sẽ hạnh phúc lắm.
Nhưng lần này tôi bắt đầu nghi ngờ. Bởi vì tôi có vài người bạn lớn tuổi
hơn, đã học xong và có bằng cấp, nhưng hiện nay họ đang vất vả với những
việc làm đầu tiên; có người phải làm thêm giờ để có tiền mua xe.
Những người bạn này nói với tôi: “Khi nào tôi có đủ tiền mua được một
chiếc xe hơi thì tôi sẽ sung sướng”.
Đến khi họ có đủ tiền mua được chiếc xe hơi rồi, tôi thấy họ cũng chẳng
sung sướng gì hơn.
Bây giờ họ phải làm việc cực hơn để sửa soạn mua một cái gì đó, hoặc
họ đang tìm kiếm một người bạn đời.
Họ nói: “Khi nào tôi lập gia đình đàng hoàng thì lúc đó tôi sẽ hạnh phúc”.
Sau khi lập gia đình, họ cũng chẳng hạnh phúc gì hơn. Tệ hơn nữa, họ
phải làm thêm hai, ba công việc, lo để dành tiền mua nhà.
Họ nói: “Khi nào mua được một căn nhà thì tôi hạnh phúc lắm”.
Nhưng mua được nhà rồi, hàng tháng vẫn phải trả nợ ngân hàng, như
thế thì đâu có hạnh phúc gì.
Ngoài ra họ bắt đầu sinh con đẻ cái. Nửa đêm con khóc phải dậy thay tã
hay cho nó bú.
Khi con bệnh hoạn thì bao nhiêu tiền để dành phải trút ra lo thuốc men
cho nó.
Và rồi hai mươi năm trôi qua trước khi họ có thể làm những gì mong ước.
Họ nói: “Khi nào con cái tôi học xong, có nghề nghiệp và tự lập được thì
chúng tôi sẽ hạnh phúc”.
Đến khi tụi nó rời khỏi nhà ra riêng thì lúc đó đa số cha mẹ sắp đến tuổi
về hưu.
Do đó họ ráng làm tiếp vài năm để lãnh tiền hưu trí nhiều hơn.
Họ nói: “Khi nào tôi về hưu thì lúc đó mới thật là sung sướng, hạnh phúc”.
Nhưng trước khi về hưu, và ngay cả sau khi về hưu, họ bắt đầu biết đạo
và đi nhà thờ.
Bạn có để ý đa số những người đi nhà thờ là những người lớn tuổi không?
Tôi hỏi tại sao bây giờ họ lại thích đi nhà thờ?
Họ trả lời: “Tại vì sau khi chết, tôi sẽ được hạnh phúc!”
Những ai nghĩ rằng “khi nào tôi có được cái này, cái nọ thì tôi sẽ hạnh
phúc”, họ không biết rằng hạnh phúc đó chỉ là một giấc mơ trong tương lai.
Giống như người đuổi theo cái bóng của mình, họ sẽ không bao giờ nếm
được hạnh phúc trong cuộc đời.
Thích Trí Siêu trích dịch từ sách
“Who ordered this truckload of dung?”
của Ajahn Brahm.

ĐỘNG TĨNH NHƯ NHIÊN


Một bữa học trò tới hỏi Thầy:

  • Thưa Thầy, mấy bữa nay lòng con không yên, tâm con động.
    Làm sao đây?
    Thiền Sư:
  • Động thì cứ động, sao phải mong tĩnh.
    Vài bữa sau, học trò lại chạy tới:
  • Mấy hôm rày con ngắm trời xanh trong, nước suối văn vắt,
    thấy lòng yên tĩnh lạ thường.
  • Tĩnh thì cứ tĩnh sao phải nói ra thành động.
  • Bao năm rồi con theo Thầy, nhưng tự cảm thấy chưa hiểu được
    gì.
    Lòng con lúc tĩnh, lúc rối…
    Thiền Sư:
  • Ta cũng như con, lúc rối lúc tĩnh… Nhưng ta không thấy phải
    nói ra điều đó thành ngôn ngữ. Ta chỉ… như ngồi yên trên CON
    THUYỀN Ý THỨC, mặc cho sóng lòng chao đảo hay yên bình.
    (Sưu Tầm)

ĐIỂN CỐ BÁT-CA ĐẮC ĐẠO


Ngày xưa, tại một ngôi chùa nọ, có một vị thiền sư trụ trì tu luyện đã mấy
chục năm trời ròng rã, nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa đắc đạo. Mặc dù
thiền sư này không kể ngày đêm sớm tối, quanh năm suốt tháng cần lao
gian khổ gõ mõ tụng kinh, ăn chay niệm Phật và luôn phát tâm nguyện từ bi
hỷ xả với tất cả chúng sinh, không bao giờ dám phạm vào những điều cấm
kỵ của giáo lý nhà Phật.
Rồi một ngày kia, có một đám trẻ đang nghịch ngợm kéo tới leo lên trên
cây đa cao lớn sum suê trước cổng chùa để phá và bắt một tổ chim Bát-ca[1]
mới nở trong một cái hốc cây đa. Sau khi lũ trẻ đã bỏ đi, một chú tiểu trong
chùa ra gốc cây đa quét lá rụng, thì bỗng phát hiện một con chim Bát-ca còn
non bị thương rất nặng rơi dưới gốc cây. Chú tiểu nhìn con chim Bát-ca non
nớt còn chưa mọc đủ lông cánh đang bị lũ kiến bâu vào đốt thì động lòng
thương xót, liền nhặt lấy mang vào trong chùa bẩm với sư cụ. Vị thiền sư
bèn ra sức chạy chữa và chăm sóc cho con Bát-ca.
Sau một thời gian được sư cụ chăm sóc thì con Bát-ca từ từ hồi phục và
trở nên khỏe mạnh như thường. Sư cụ bèn nhờ một Phật tử ra chợ mua một
cái lồng chim để nhốt con Bát-ca vào đó, rồi treo lồng chim ngay bên cạnh
căn phòng nơi mình vẫn ngồi tụng kinh gõ mõ hàng đêm. Con Bát-ca dần
dần lớn lên trong tiếng gõ mõ, tiếng tụng kinh và tiếng chuông chùa đều đặn
hàng ngày của sư cụ, vì thế dần dần nó nghe và bắt chước được cả tiếng
người, tiếng mõ và tiếng chuông.
Cứ tối đến, mỗi khi bắt đầu nghe tiếng mõ, tiếng chuông và tiếng tụng
kinh đều đều của sự cụ rền rĩ vang lên, là con chim Bát-ca cũng bắt chước
bập bẹ đọc theo: “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật…
cốc cốc… cốc… boong”.
Lâu ngày thành thói quen, có những lần sư cụ bị bệnh nặng, không thể
dậy để tụng kinh gõ mõ được, nhưng cũng cứ đến đúng giờ đó là con chim
Bát-ca lại tự giác nhớ tới nhiệm vụ tụng kinh, gõ mõ, đánh chuông và niệm
Phật của mình:
“Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật… cốc cốc cốc…
boong”.
Nhưng chỉ được khoảng năm sáu năm thì con Bát-ca già yếu, nó cứ ăn
ít dần rồi một ngày kia tự nhiên lăn ra chết. Sư cụ thương xót con chim lắm,
mới đem xác nó ra chôn tại một góc vườn sau chùa. Thời gian thấm thoắt
thoi đưa, rồi vì quá bận rộn với việc tu hành, sư cụ cũng lãng quên dần hình
ảnh của con Bát-ca lúc nào không biết.
Khá lâu sau, nhân một lần ra thăm vườn, sư cụ bất chợt nhớ tới con chim
Bát-ca nhỏ bé tội nghiệp, bèn tới góc vườn nơi chôn con Bát-ca để thăm lại
nấm đất khi trước do chính tay sư cụ đắp cho nó. Lúc tới nơi sư cụ bỗng
bàng hoàng sửng sốt khi nhìn thấy ngay trên đầu nấm mộ của con Bát-ca
có một bông hoa sen đang nở.
Sư cụ lặng người bần thần suy nghĩ: Như vậy chứng tỏ con Bát-ca không
tu mà đã đắc đạo, Phật tổ đã biết tới tấm lòng chí thành của nó! Như vậy
chứng tỏ muốn đắc đạo, lòng người phải thật sự vô tư trong sáng, không
được có một chút mảy may tự tư vị lợi. Cầu mà giống như không cầu, không
cầu mà giống như cầu. Tu mà giống như không tu, không tu mà giống như
tu! Cái lẽ “sắc sắc không không” của nhà Phật thật là rộng lớn, thật là sâu
sắc, huyền diệu vô biên mà khó lắm thay! Cửa Phật tiếng là “Từ bi phương
tiện”, nhưng thực sự bước vào được không dễ chút nào!
Sư cụ chợt như bừng tỉnh! Thì ra, sau mấy chục năm trời khổ công tu
luyện, tới nay tuổi đã cao, sức đã yếu, cho đến khi đứng trước nấm mồ của
chim Bát-ca đã đắc đạo này, sư cụ mới ý thức được rằng trong suốt cuộc
đời tu luyện của mình, hôm nay mới là ngày đầu tiên sư cụ thực sự giác ngộ
ra được phần nào giáo lý của đạo Phật.
Thế rồi buổi tối hôm đó, trước khi tụng kinh gõ mõ như thường lệ, người
vừa gõ mõ thỉnh chuông vừa cất giọng rền rĩ, đều đều đọc một bài kệ không
có trong kinh Phật:
Hữu nhất phi cầm khiếu Bát-ca,
Vãn thượng tùy tăng niệm A Di…
Tử mai bình địa liên hoa phát,
Ngã bối vi nhân phản bất như!
Nam mô A Di Đà Phật… cốc… cốc… boong!
Tạm dịch nghĩa như sau:
Có một con chim gọi Bát-ca,
Tối tối theo sư niệm Di Đà…
Chết rồi trên mộ hoa sen mọc,
Chẳng tu đắc đạo lại hơn ta!
Nam mô A Di Đà Phật… cốc cốc… boong!

  • Nguyễn Văn Nghĩa –
    Trích: Suối nguồn, Số 1.T5/2011
    Chú thích: Từ Hán Việt gọi chim Bát-ca, dân gian gọi là chim Sáo.

NHỮNG LỜI PHẬT DẠY


Một hôm, Đức Phật đang ngồi nói chuyện với các môn đồ ở bên dưới một
cái cây to thì đột nhiên có một người đàn ông đi tới và nhổ nước bọt vào mặt
Ngài. Song trái lại với mọi dự đoán, Đức Phật vẫn ngồi điềm tĩnh, Ngài chỉ
lau mặt và hỏi lại người đàn ông một câu:

  • Tiếp theo là gì nào?
    Trong khi đó, các môn đồ của Ngài thì rất tức giận. Môn đồ gần gũi nhất
    với Đức Phật là Ananda nói:
  • Thế này là quá lắm. Chúng ta không thể tha thứ cho hành động vô lễ
    này. Cần phải trừng trị hắn, nếu không những kẻ khác sẽ lại bắt chước điều
    đó.
    Nhưng Đức Phật đã trấn an Ananda:
  • Ngươi hãy im lặng đi. Anh ta không khiến Ta thấy phiền, nhưng ngươi
    thì có. Anh ta là một người mới, là người ta không quen biết.
    Hẳn anh ta đã nghe người khác nói gì đó về Ta, rằng Ta là một người
    đạo đức giả, một người nguy hiểm, khiến người ta đi chệch hướng, một kẻ
    xấu xa. Và có thể trong đầu anh ta đã hình thành một định kiến về Ta. Anh
    ta không nhổ nước bọt vàoTa, mà vào hình ảnh mà anh ta nghĩ ra trong đầu.
    Anh ta nhổ nước bọt vào hình ảnh đó vì anh ta không hiểu Ta. Nếu suy
    nghĩ kỹ, ngươi sẽ thấy người đàn ông đáng thương này hẳn là có điều gì đó
    muốn nói, đây là cách anh ta bày tỏ điều đó. Nhổ nước bọt là cách để anh
    ta nói điều gì đó.
    Có những lúc, khi Ta thấy bất lực với ngôn từ, Ta sẽ dùng hành động để
    biểu đạt. Ta có thể hiểu được anh ta. Vì thế, Ta mới hỏi anh ta rằng “Tiếp
    theo là gì nào?”.
    Ta cảm thấy rất thất vọng, không phải vì anh ta, mà vì các ngươi. Đã đi
    theo Ta nhiều năm như vậy rồi, mà các ngươi vẫn còn có cách phản ứng
    như vậy.
    Trước phản ứng bất ngờ này, người đàn ông như đứng chết trân tại chỗ.
    Anh ta chưa từng gặp chuyện như vậy trong đời. Anh ta đã từng sỉ nhục rất
    nhiều người và họ đều phản ứng lại tương tự.
    Với những kẻ hèn nhát và yếu thế, họ cố cười gượng rồi tìm cách lấy lòng
    anh ta. Nhưng Đức Phật thì khác. Ngài không tức giận, cũng không cố tỏ ra
    vui vẻ. Nét mặt của Ngài toát ra sự điềm tĩnh và Ngài chỉ muốn biết anh ta
    có muốn nói gì không.
    Sự sám hối của người đàn ông
    Chẳng biết nói gì nữa, người đàn ông trở về nhà. Tối đó, anh ta không
    thể ngủ được. Anh ta bị ám ảnh bởi những gì đã diễn ra. Anh ta không thể
    giải thích cho bản thân chuyện đã xảy ra.
    Anh ta run rẩy, người vã ra đầy mồ hôi. Anh ta chưa từng gặp ai như vậy.
    Đức Phật đã khiến cho thứ tâm trí rối bời, đen tối, đầy oán hận cũng như
    toàn bộ quá khứ của anh ta như bị vỡ vụn thành trăm mảnh.
    Sáng hôm sau, người đàn ông quay trở lại, phủ phục dưới chân Đức
    Phật. Đức Phật ân cần hỏi anh ta:
  • Sao nào? Đây cũng là một cách nói điều gì đó. Khi ngươi đến phủ phục
    dưới chân ta, ngươi đang muốn gián tiếp nói một điều gì đó mà ngôn từ
    dường như bất lực.
    Rồi, Đức Phật nhìn sang Ananda:
  • Ananda, người đàn ông này lại tới, anh ta đang nói điều gì đó. Anh ta là
    một người đang chất chứa rất nhiều cảm xúc.
    Mỗi con người là một dòng sông
    Người đàn ông ngẩng đầu lên nhìn Đức Phật rồi nói:
  • Xin Ngài hãy tha thứ cho những gì tôi làm hôm qua.
    Đức Phật hỏi lại:
  • Tha thứ điều gì? Nhưng ta đâu phải là người mà ngươi đã sỉ nhục. Sông
    Hằng luôn chảy không ngừng, sông Hằng của hôm nay đâu phải sông Hằng
    của hôm qua. Mỗi người đều là một dòng sông.
    Người bị ngươi sỉ nhục đã không còn ở đây. Ta chỉ giống người đó thôi,
    chứ không phải ông ta. Trong 24 giờ đồng hồ, có rất nhiều chuyện xảy ra.
    Vì thế, Ta không thể tha thứ cho ngươi, vì Ta không có gì oán hận ngươi cả.
    Và ngoài ra, ngươi cũng không phải là người đàn ông hôm qua tới đây.
    Vì anh ta lúc đó rất giận dữ, anh ta khạc nhổ vào Ta, còn ngươi thì phủ
    phục dưới chân ta. Sao 2 người các ngươi lại là một được? Vì thế, hãy quên
    chuyện đó đi. Hãy tới gần Ta hơn và nói về chuyện khác.
    LỜI BÀN:
    Là một trong số những giai thoại về Đức Phật được nhiều người kể lại, câu
    chuyện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và to lớn trong việc giáo dục cách ứng
    xử giữa con người với con người.
    Thông thường, người ta dễ dàng tha thứ cho bản thân, nhưng lại hà khắc trước
    những sai sót của người khác. Khi bản thân gặp chuyện không vui, người ta cho
    phép mình hành động bất cẩn, thậm chí gây tổn thương cho người khác.
    Nhưng nếu là nạn nhân, họ lại tỏ ra tức giận và khó tha thứ cho kẻ đã gây ra của
    những hành động ấy. Song, theo như lời Đức Phật nói, ai cũng là một dòng sông,
    ai cũng có những khúc mắc, những câu chuyện, những nỗi đau riêng không dễ gì
    chia sẻ được với người khác và sẽ có lúc không tránh khỏi việc vô tình, hoặc cố ý làm
    người khác tổn thương.
    Việc phản ứng lại một cách gay gắt không những không giải quyết được vấn đề,
    mà còn làm mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc, khó hòa giải.
    Hiểu được điều này, giữ được sự bình tĩnh, bỏ qua được bề nổi của sự việc, tìm
    hiểu nguồn cơn không chỉ là một cách làm thông minh, giúp giải quyết tận gốc vấn
    đề, mà còn giúp ta nhận được Sự Tôn Trọng từ người khác.
    Đó mới chính là phần thưởng vô giá.
    Ngoài ra, câu chuyện cũng bao gồm một ngụ ý mang tính triết học:
    Mỗi con người là một dòng sông. Ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai, ta đều
    là những con người khác nhau. Hãy để những phiền muộn, những sai lầm theo
    những dòng chảy, trôi về quá khứ. Đừng mãi ám ảnh bởi những gì đã xảy ra, đừng
    sợ sự thay đổi, mà hãy luôn ngẩng cao đầu, đối diện và hướng tới những thay đổi
    tích cực ở phía trước.
    Trích Sống sung sướng

TRỞ LẠI MÁI NHÀ XƯA

hay ẨN DỤ CON CHIM TÌM BỜ
TRONG KINH ĐIỂN

Câu chuyện về gã cùng-tử trong kinh Pháp Hoa là một ẩn dụ sinh động,
mô tả về một người vốn giàu có mà cứ tưởng mình thật sự là kẻ nghèo
hèn. Vấn đề là cho đến khi nào chàng cùng tử ấy mới hội đủ điều kiện,
nhân duyên để phản tỉnh và nhận ra mình vốn có kho tàng trong chéo áo.
Cũng vậy, có những kho tàng minh triết, có những đấng phạm hạnh, có
những bậc thiện lành vốn đang hiện hữu ở ngay đây, trong cuộc sống này
nhưng chúng ta cứ mãi mê tìm kiếm ở đâu khác. Câu chuyện con chim
tìm bờ được Phật nêu dẫn trong kinh là một trưởng hợp như vậy.
Điều đặc biệt là, câu chuyện con chim tìm bờ đều xuất xuất hiện trong
cả hai truyền thống kinh điển, từ Pāli cho đến Hán tạng.
Kinh Trường Bộ số 11 (Kevaddha Sutta) ghi:
Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường
đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa
không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ.
Con chim bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về
phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy
bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy
bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền. (HT. Thích Minh Châu, dịch).
Tương tự, kinh Trường A-hàm số 24, Kinh Kiên Cố ghi:
Này Tỳ-kheo, ví như người lái buôn mang con chim ưng cùng đi
biển[1]. Khi ra giữa biển khơi thì thả con chim ra. Chim bay giữa hư không,
trông khắp cả bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, nếu nhìn thấy đất liền thì
liền đáp xuống, nếu không thấy bờ thì chim sẽ bay trở lại đáp xuống
thuyền. (Trung tâm Trí Tịnh, dịch).
Theo kinh Kiên Cố, có vị tỳ-kheo thành tựu thần thông nhưng cứ mãi
đắm mình trong suy nghĩ: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do
đâu mà diệt hẳn [2]?
Từ suy nghĩ này, đáng lý phải hỏi ngay đức Thế Tôn đang hiện hữu
bên cạnh nhưng thầy tỳ-kheo ấy lại hướng vào Thiên giới để tham vấn các
vị thiên thần.
Lần lượt, thầy ấy tham vấn từ Tứ Thiên Vương [3], chư Thiên cõi trời
Đao-lợi[4], chư Thiên cõi trời Diệm-ma [5]…cho đến cõi Phạm Thiên.
Khi đến cõi Phạm Thiên, Tỳ-kheo kia liền đến hỏi Phạm Vương:
“Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn?”
Đại Phạm Vương kia đáp:
“Ta là Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, thống lãnh cả nghìn
thế giới, giàu sang quyền quý, rất tự tại, có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ
của tất cả chúng sanh.”
Khi đó, Tỳ-kheo kia nói:
“Tôi không hỏi việc đó, tôi chỉ muốn hỏi bốn đại đất, nước, lửa, gió do
đâu mà diệt hẳn?”
Này con trai trưởng giả! Phạm Vương kia vẫn cứ đáp:
“Ta là Đại Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng,… cho đến có thể
tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.”
Vị Tỳ-kheo lại hỏi:
“Tôi không hỏi điều đó, tôi chỉ muốn hỏi bốn đại do đâu mà diệt hẳn
thôi!”
Này con trai trưởng giả! Phạm Thiên Vương kia đáp ba lần như thế,
nhưng vẫn không trả lời được câu hỏi của Tỳ-kheo ấy là bốn đại do đâu
mà diệt hẳn. Lúc đó, Đại Phạm Vương bèn nắm tay phải của Tỳ-kheo, dẫn
tới chỗ vắng và nói:
“Này Tỳ-kheo! Hiện nay, các Phạm Thiên đều tôn ta là người có trí tuệ
bậc nhất, điều gì cũng biết, cũng thấy nên ta không thể trả lời với thầy
rằng ta không thấy, không biết bốn đại do đâu mà diệt hẳn.”
Rồi lại nói tiếp với Tỳ-kheo rằng:
“Thầy thật quá dại khờ nên mới bỏ Như Lai mà tìm đến chư Thiên để
hỏi việc này! Thầy nên trở lại hỏi Thế Tôn việc này. Đức Phật dạy như
thế nào, thầy hãy khéo léo thọ trì như vậy.
Hiện nay, Thế Tôn đang ngự tại vườn ông Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ.
Thầy hãy mau đến đó mà hỏi[6].”
Với năng lực thần thông của mình, thầy tỳ-kheo chỉ trong khoảnh khắc
quay trở về chốn cũ, vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ để gặp
đức Phật. Nhân đó đức Phật đã viện dẫn ví dụ con chim tìm bờ nêu trên
và hóa giải mối nghi của vị tỳ-kheo kia bằng bài kệ:
Bốn đại này do đâu,
Diệt sạch không còn dấu? [7]
Sắc thô, tế, đẹp, xấu,
Dài, ngắn, diệt do đâu?
Do đâu không danh, sắc,
Diệt hẳn, không dư tàn? [8]
Nên đáp: Thức vô hình,
Vô lượng, tự tỏa sáng [9].
Thức diệt, bốn đại diệt,
Thô, tế, đẹp, xấu diệt,
Danh, sắc này cũng diệt,
Thức diệt, tất cả diệt [10].
Trong câu chuyện này, ngoài việc hóa giải tồn nghi cho vị tỳ-kheo:
Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn? Điều đặc
biệt là, qua ẩn dụ con chim tìm bờ nêu trên, đã cho thấy đức Phật là một
bậc quán thông về lịch sử văn minh của đất nước Ấn Độ.
Vì lẽ, trong quá trình khai quật di chỉ lịch sử Mohenjo-Daro ở Pakistan,
thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn (The Indus Valley Civilisation), có
niên đại 2.800 trước tây lịch cho đến 1.800 trước tây lịch, các nhà khảo
cổ đã phát hiện ra một bức phù điêu ghi nhận về ẩn dụ con chim tìm bờ,
tạm định danh là Con thuyền Disha Kaka với con chim định hướng (Disha
Kaka Boat with Direction Finding Birds). Tư liệu lịch sử quý giá này hiện
được bảo tồn ở Bảo tàng quốc gia Ấn Độ (India National Museum) tại
New Delhi.
Từ một ví dụ sinh động trong kinh được xác thực bằng hiện vật lịch sử
có niên đại gần ba ngàn năm, đã góp phần minh chứng, kinh điển của Phật
giáo không những là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại mà còn đồng
thời khẳng định rằng, lời dạy của Đức Phật là chân lý không bị hạn cuộc
bởi thời gian.
Chúc Phú


[1] Nguyên tác Tí ưng nhập hải (臂鷹入海): Thương nhân đi biển mang theo con chim
tìm bờ.
[2] Thử thân tứ đại, địa, thủy, hỏa, phong, hà do vĩnh diệt (此身四大, 地, 水, 火, 風何
由永滅?
[3] Tứ thiên vương (四天王 – Cātummahārājikā devā): Tầng thứ nhất trong sáu tầng
trời cõi Dục.
[4] Đao-lợi (忉利 – Tāvatiṁsa): Tầng thứ hai trong sáu tầng trời cõi Dục.
[5] Diệm-ma (焰摩 – Yāma): Còn gọi Dạ-ma (夜摩), tầng thứ ba trong sáu tầng trời cõi
Dục.
[6] Kiên Cố kinh 堅固經 (T. 01. 0001. 24. 0101b14). Bản dịch của Trung tâm Trí Tịnh.
[7] Tham chiếu, D.11: Kattha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati? (Ở đâu, địa đại,
thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng? HT. Thích Minh Châu, dịch)
[8] Tham chiếu, D.11: Kattha nāmañ ca rūpañ ca asesaṃ uparujjhati? (Chỗ nào cả danh
và sắc tiêu diệt hoàn toàn? HT. Thích Minh Châu, dịch)
[9] Nguyên tác Thức vô hình, vô lượng tự hữu quang (識無形,無量自有光). Tham
chiếu, D.11: Viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ. (Thức là không thể thấy,
vô biên, biến thông hết thảy xứ. HT. Thích Minh Châu, dịch). Kinh Trung A-hàm, kinh
Phạm Thiên thỉnh Phật, số 78, ghi: Thức vô lượng cảnh giới (識無量境界).
[10] Tham chiếu, D.11: Vññāṇassa nirodhena eth’ etaṃ uparujjhatīti (Khi thức diệt, ở
đây mọi thứ đều diệt tận. HT. Thích Minh Châu, dịch).

BIẾT RÕ VIỆC ĐANG LÀM

Trong bài kinh Tứ niệm xứ, Bốn lãnh vực quán niệm, đức Phật có
dạy cho chúng ta cách thực tập chánh niệm như sau,
“Khi đi, vị khất sĩ lại cũng ý thức rằng mình đang đi; khi đứng, ý
thức rằng mình đang đứng; khi ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi; khi
nằm, ý thức rằng mình đang nằm. Bất cứ thân thể mình đang được sử
dụng trong tư thế nào, vị ấy cũng ý thức được về tư thế ấy của thân
thể…
Khi đi tới hoặc đi lui, vị khất sĩ cũng biết rõ việc mình đang làm; khi
nhìn trước nhìn sau, cúi xuống, duỗi lên, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức
sáng tỏ ấy; khi mặc áo, mang bình bát, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức
sáng tỏ ấy; khi ăn cơm, uống nước, nhai thức ăn, nếm thức ăn, vị ấy
cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy cũng
chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói
năng, hoặc im lặng, vị ấy cũng biết rõ việc mình đang làm.”
“Furthermore, when going forward and returning, he makes
himself fully alert; when looking toward and looking away… when
bending and extending his limbs… when carrying his outer cloak, his
upper robe, and his bowl… when eating, drinking, chewing, and
savoring… when urinating and defecating… when walking, standing,
sitting, falling asleep, waking up, talking, and remaining silent, he
makes himself fully alert.”
Biết rõ việc mình đang làm
Trong đoạn kinh ấy, Phật dạy chúng ta hãy đem chánh niệm vào tất
cả những việc mình làm trong đời sống hằng ngày. Ngài không bỏ ra
ngoài bất cứ một việc làm nhỏ nhặt nào hết, thận trọng và chú tâm
mỗi khi làm một gì, dù có tầm thường đến đâu, “vị ấy cũng biết rõ việc
mình đang làm”, he makes himself fully alert.
Theo như lời dạy thì trong bất cứ một hoàn cảnh nào, dù có thể là
ngay giữa những khó khăn hay khổ đau, chúng ta cũng vẫn có thể tu

tập được. Vì bất cứ một việc làm nào của ta cũng có thể giúp mình tiếp
xúc được lại với sự vận hành của pháp. Điều kiện giác ngộ đang có mặt
ở mọi nơi chung quanh ta, nếu như ta đừng nắm bắt hay xua đuổi một
kinh nghiệm nào, và chỉ cần “biết rõ việc mình đang làm” mà thôi.
Và có lẽ Phật cũng muốn nhắc nhở rằng, thật ra chúng ta đâu cần
phải đợi chờ một hoàn cảnh thuận lợi, hay tìm kiếm một pháp môn
đặc biệt nào, mà chỉ cần có mặt và thấy rõ những tư thế, phản ứng,
cảm xúc, tâm ý của mình trong mỗi việc đang làm, ngay bất cứ nơi nào
mà mình đang có mặt.
Ta có thể nào luôn biết được chăng?
Nhưng chúng ta có thể lúc nào cũng “biết rõ việc mình đang làm”
không? Việc ấy có thể thực hiện được chăng? Trong đoạn kinh trên,
đức Phật kể ra tất cả những hành động bình thường trong đời sống
hằng ngày. Ngài không hề nói việc làm nào là quan trọng hơn việc nào,
tất cả đều cần phải được biết rõ như nhau.
Có lần trong một buổi nói chuyện, tôi có chia sẻ về đoạn kinh trên
với mọi người. Sau đó, có một bạn đến nói rằng, nếu như trong cuộc
sống hằng ngày mà ta cứ phải liên tục chú ý đến mỗi hành động chi li
của mình, thì việc ấy không thực tế chút nào, mà còn là chuyện bất khả
thi nữa!
Tôi nghĩ nhận xét của người bạn ấy cũng có phần nào đúng, chúng
ta khó có thể nào mà cứ liên tục chú tâm đến mọi việc xảy ra. Nếu như
“Ta” lúc nào cũng cứ phải chú ý đến từng hành động, mỗi việc làm của
mình, thì chắc chắn sẽ là mệt mỏi lắm. Nhưng chúng ta nên tìm hiểu
sâu hơn lời Phật dạy về việc “biết rõ việc mình đang làm”, và với một
cái nhìn rộng lớn hơn.
Với một thái độ buông thư và rộng mở
Các vị thiền sư thường hay nói về một cái tánh biết, knowing, sẵn
có trong tất cả chúng ta. Có lẽ là “Ta” sẽ không thể nào biết rõ hết mọi
việc mình đang làm, nhưng “cái biết”, knowing, tự nó có thể làm được
việc đó. Khi ta rộng mở và để yên, thì cái biết của mình sẽ phát sinh

lên tự nhiên thôi. Không cần cố gắng tai ta vẫn nghe, không cần nỗ lực
mắt ta vẫn thấy…
Mà nhiều khi, những cố gắng của ta lại thường gây nên những khó
khăn và trở ngại không cần thiết, vì đó là sự dụng công của một cái
Tôi, cái Ngã. Và thường khi hễ cái Ngã có mặt thì cái Biết tự nhiên sẽ
vắng mặt.
Ta không thể “biết rõ việc mình đang làm” bằng một sự dụng công
hay gắng sức nào, nhưng chỉ có thể bằng một thái độ buông xả và rộng
mở, cho phép những gì đang có mặt được có mặt, để thấy rõ những gì
đang xảy ra. Vì khi ta rộng mở ra, thì cái “Ta” của mình sẽ bớt đi năng
lực kiểm soát chủ quan của nó, và nhờ vậy mà cái thấy biết của mình
cũng sẽ dễ dàng có mặt hơn trong giờ phút hiện tại.
Mà thật ra ta cũng không cần trở về với giờ phút hiện tại, bởi vì hiện
tại lúc nào cũng đang hiện hữu, ta có đi nơi nào khác đâu mà cần phải
trở về? Vấn đề khởi lên khi “Ta” cố gắng để có mặt trong giờ phút hiện
tại này. Cũng như một con cá thong dong giữa đại dương lại cố gắng
trở về lại với nước, hay con chim đang bay trong không trung lại muốn
tìm kiếm một bầu trời.
Nếu như ta bớt đi sự tìm kiếm của mình thì hiện tại chỉ là một thực
tại đang-là tự nhiên thôi. Hiện tại đâu phải là một khoảng không gian
hay thời gian đóng kín hay giới hạn nào, mà ta phải cố gắng mới có
thể bước vào. Chỉ cần biết buông ra thì hiện tại nhiệm mầu sẽ có mặt.
Và được như vậy rồi thì đi đến bất cứ nơi nào, hay đang ở trong
một hoàn cảnh nào, ta cũng có một cơ hội để sống trong chánh niệm
và tỉnh giác, “when going forward and returning, he makes himself
fully alert…”
Nguyễn Duy Nhiên

Thứ Bảy, ngày 07 tháng 03, năm 2020 – KINH NGŨ CHI VẬT CHỦ

179. KINH NGŨ CHI VẬT CHỦ[1]

Tôi nghe như vầy.

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Ngũ Chi Vật chủ[02] vào buổi sáng sớm rời khỏi nước Xá-vệ, đi đến chỗ Phật để cúng dường lễ bái. Ngũ Chi Vật chủ suy nghĩ: “Dù có đến chỗ Đức Phật thì Đức Thế Tôn và các Tỳ-kheo vẫn còn đang thiền tịnh. Vậy ta hãy đi đến khu vườn của Dị học Nhất Sa-la Mạt-lị[03].”

Rồi thì Ngũ Chi Vật chủ bèn ghé lại chỗ du hí hoan lạc gần hàng cây Cân-đầu-a-lê[04], đi đến khu vườn Dị học nhất sa-la mạt-lị[05].

Bấy giờ, trong khu vườn Dị học nhất sa-la mạt-lị có một dị học tên là Sa-môn Văn-kì Tử[06], là đại tông chủ ở trong chúng đó, là tôn sư của nhiều người, được nhiều người kính trọng, thống lãnh một đại chúng gần năm trăm dị học sư. Ông đang ở giữa đám đông ồn ào, lớn tiếng, âm thanh huyên náo, luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh[07], như: bàn chuyện vua chúa, bàn chuyện trộm cướp, bàn chuyện đấu tranh, bàn chuyện ăn uống, bàn chuyện áo chăn, bàn chuyện phụ nữ, bàn chuyện đàn bà, bàn chuyện con gái, bàn chuyện dâm nữ, bàn chuyện thế gian, bàn chuyện tà đạo, bàn chuyện trong biển; đại loại như thế, chúng tụ tập luận bàn đủ mọi đề tài súc sanh.

Dị học Sa-môn Văn-kì Tử trông thấy Ngũ Chi Vật chủ từ xa đang đi đến, liền ra lệnh bảo chúng của mình im lặng, rằng:

“Các người hãy im lặng, đừng nói nữa. Hãy tự thu liễm. Có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm là Ngũ Chi Vật chủ sắp đến đây. Trong số những đệ tử tại gia của Sa-môn Cù-đàm ở nước Xá-vệ này không ai hơn được Ngũ Chi Vật chủ. Vì sao vậy? Vì ông ấy ưa thích sự im lặng, ca ngợi sự im lặng. Nếu ông ấy thấy hội chúng đây im lặng, có thể sẽ đến thăm”.

Bấy giờ, Dị học Sa-môn Văn-kì Tử bảo hội chúng im lặng rồi, tự mình cũng im lặng.

Khi ấy, Ngũ Chi Vật chủ đi đến chỗ Dị học Sa-môn Văn-kì Tử, cùng nhau chào hỏi, rồi ngồi xuống một bên. Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói:

“Này Vật chủ[08], nếu có bốn sự, ta chủ trương rằng người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực. Những gì là bốn? Là thân không tạo nghiệp ác, miệng không nói ác, không sống bằng tà mạng và không suy niệm niệm ác. Này Vật chủ, nếu có bốn sự này, ta chủ trương rằng người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực”.

Ngũ Chi Vật chủ nghe Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói, không cho là phải, không cho là trái, từ chỗ ngồi đứng dậy, bước đi với ý niệm: “Với lời như vậy, ta phải đích thân đi đến Thế Tôn thưa hỏi nghĩa này”. Rồi ông đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi xuống mộït bên, đem những điều đã bàn luận với Dị học Sa-môn Văn-kì Tử thuật lại hết với Đức Phật.

Đức Thế Tôn nghe xong, nói rằng:

“Này Vật chủ, theo lời Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói, nếu quả thật như vậy thì trẻ sơ sanh tay chân mềm yếu, nằm ngửa mà ngủ, cũng sẽ thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về thân, huống nữa là tạo nghiệp ác của thân. Nó chỉ có thể cử động thân. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về miệng, huống nữa là nói ác. Nó chỉ biết khóc. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về niệm, huống nữa là niệm ác duy chỉ biết bập bẹ[09]. Này Vật chủ, trẻ sơ sanh còn không có tưởng về mạng, huống nữa là sống tà mạng, duy chỉ suy niệm đến sữa mẹ. Này Vật chủ, theo lời Dị học Sa-môn Văn-kì Tử nói, như vậy thì trẻ sơ sanh cũng thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực.

“Này Vật chủ, nếu người nào có bốn sự, Ta chủ trương rằng người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, nhưng không phải là bậc Vô thượng sĩ, không thể chứng đắc đệ nhất nghĩa, cũng không phải là Sa-môn chất trực.

“Những gì là bốn? Là thân không tạo nghiệp ác, miệng không nói ác, không sống tà mạng và không suy niệm niệm ác. Này Vật chủ, nếu người nào có bốn sự, Ta chủ trương rằng người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, nhưng không phải là bậc Vô thượng sĩ, không thể chứng đắc đệ nhất nghĩa, cũng không phải là Sa-môn chất trực.

“Này Vật chủ, thân nghiệp, khẩu nghiệp, ta chủ trương đó là giới.

“Này Vật chủ, niệm, Ta chủ trương đó là tâm sở hữu đi theo với tâm.

“Này Vật chủ, ta nói nên biết giới bất thiện. Nên biết giới bất thiện phát sanh từ đâu? Nên biết giới bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm thế nào để diệt trừ giới bất thiện.

“Này Vật chủ, ta nói nên biết giới thiện. Nên biết giới thiện phát sanh từ đâu? Nên biết giới thiện bị diệt không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm thế nào để diệt trừ giới thiện.

“Này Vật chủ, ta nói nên biết niệm bất thiện. Nên biết niệm bất thiện phát sanh từ đâu? Nên biết niệm bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết đệ tử Hiền thánh làm thế nào để diệt trừ niệm bất thiện.

“Này Vật chủ, ta nói nên biết niệm thiện. Nên biết niệm thiện phát sanh từ đâu? Nên biết niệm thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nên biết Hiền Thánh làm thế nào để diệt trừ niệm thiện.

“Này Vật chủ, thế nào gọi là giới bất thiện?

“Thân hành bất thiện, miệng, ý hành bất thiện. Đó gọi là giới bất thiện.

“Này Vật chủ, giới bất thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tâm. Thế nào gọi là tâm? Nếu tâm có dục, có nhuế, có si, nên biết giới bất thiện phát sanh từ tâm này.

“Này Vật chủ, giới bất thiện bị diệt trừ, không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào? Đa văn Thánh đệ tử xả bỏ nghiệp bất thiện về thân, tu tập nghiệp thiện về thân; xả bỏ nghiệp bất thiện về miệng, ý, tu tập nghiệp thiện về miệng, ý. Đây là giới bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.

“Này Vật chủ, đệ tử Hiền thánh làm thế nào diệt trừ giới bất thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp. Như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới bất thiện.

“Này Vật chủ, thế nào gọi là giới thiện? Thân hành thiện, miệng, ý hành thiện. Đó gọi là giới thiện.

“Này Vật chủ, giới thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tâm. Thế nào gọi là tâm? Nếu tâm không có dục, không có nhuế, không có si, nên biết giới thiện phát sanh từ tâm này.

“Này Vật chủ, giới thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào. Nếu Đa văn Thánh đệ tử hành trì giới mà không dính trước nơi giới, đây là giới thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.

“Này Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ giới thiệïn? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp. Như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới thiện.

“Này Vật chủ, thế nào gọi là niệm bất thiện? Suy niệm về niệm dục, niệm nhuế, niệm hại. Đó gọi là niệm bất thiện.

“Này Vật chủ, niệm bất thiện này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tưởng. Thế nào gọi là tưởng? Ta nói hành trạng của tưởng có nhiều loại, đa chủng, vô lượng chủng, hoặc dục tưởng, nhuế tưởng, hại tưởng.

“Này Vật chủ, chúng sanh do tưởng dục giới[10] mà sanh niệm bất thiện tương ưng với dục giới. Nếu có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm bất thiện tương ưng với dục giới.

“Này Vật chủ, chúng sanh do tưởng nhuế giới, hại giới cho nên sanh niệm bất thiện tương ưng với nhuế và hại giới. Nếu có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm bất thiện tương ưng với nhuế, hại giới. Đó là niệm bất thiện phát sanh từ tưởng này.

“Này Vật chủ, niệm bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào? Nếu Đa văn Thánh đệ tử ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu và an trụ, đây là niệm bất thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.

“Này Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ niệm bất thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp; như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm bất thiện.

“Này Vật chủ, thế nào gọi là niệm thiện? Suy niệm về niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại[11]. Đó gọi là niệm thiện.

“Này Vật chủ, niệm này phát sanh từ đâu? Ta nói chỗ phát sanh của chúng, nên biết là phát sanh từ tưởng. Thế nào gọi là tưởng? Ta nói hành trạng của tưởng có nhiều loại, đa chủng, vô lượng chủng, hoặc vô dục tưởng, vô nhuế tưởng, vô hại tưởng.

Này Vật chủ, chúng sanh do tưởng trong vô dục giới cho nên sanh niệm thiện tương ưng với vô dục giới. Nếu có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm thiện, tương ưng với vô dục giới.

“Này Vật chủ, chúng sanh do tưởng trong vô nhuế, vô hại giới cho nên sanh niệm thiện tương ưng với vô nhuế, vô hại giới. Nếu có tưởng thì vì nhân nơi tưởng đó cho nên sanh niệm thiện tương ưng với vô nhuế, vô hại giới. Đó là niệm thiện phát sanh từ tưởng này.

“Này Vật chủ, niệm thiện bị diệt trừ không còn dư tàn ở chỗ nào, bị bại hoại không còn dư tàn ở chỗ nào? Nếu Đa văn Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ, diệt ưu hỷ vốn đã có, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh, chứng đắc đệ Tứ thiền, thành tựu và an trụ, đây là niệm thiện bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn.

“Này Vật chủ, Hiền thánh đệ tử làm thế nào để diệt trừ niệm thiện? Nếu Đa văn Thánh đệ tử quán nội thân như thân, cho đến quán thọ, tâm, pháp như pháp, như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm thiện.

“Này Vật chủ, nếu Đa văn Thánh đệ tử do tuệ quán sát biết đúng như thật giới bất thiện, biết đúng như thật giới bất thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật giới bất thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới bất thiện.

“Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật giới thiện, biết đúng như thật giới thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật giới thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ giới thiện.

“Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật niệm bất thiện, biết đúng như thật niệm bất thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật niệm bất thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm bất thiện.

“Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật niệm thiện, biết đúng như thật niệm thiện phát sanh từ đâu, biết đúng như thật niệm thiện này đã bị diệt trừ không còn dư tàn, bị bại hoại không còn dư tàn. Do tuệ mà quán sát biết đúng như thật như vậy là Hiền thánh đệ tử đã diệt trừ niệm thiện.

“Vì sao vậy? Vì nhân chánh kiến nên sanh chánh chí[12], nhân chánh chí nên sanh chánh ngữ, nhân chánh ngữ nên sanh chánh nghiệp, nhân chánh nghiệp nên sanh chánh mạng, nhân chánh mạng nên sanh chánh phương tiện[13], nhân chánh phương tiện nên sanh chánh niệm, nhân chánh niệm nên sanh chánh định. Hiền thánh đệ tử đã định tâm như vậy rồi, liền giải thoát tất cả dâm, nộ, si.

“Này Vật chủ, Hiền thánh đệ tử đã chánh tâm giải thoát như vậy rồi, liền biết đúng như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đó gọi là học kiến đạo[14] thành tựu tám chi, và A-la-hán lậu tận đã thành tựu mười chi[15].

“Này Vật chủ, thế nào gọi là học kiến đạo thành tựu tám chi? Đó là học chánh kiến cho đến chánh định. Như vậy gọi là học kiến đạo thành tựu tám chi.

“Thế nào gọi là A-la-hán lậu tận thành tựu mười chi? Đó là vô học chánh kiến cho đến vô học chánh trí[16]. Như vậy gọi là A-la-hán lậu tận thành tựu mười chi.

“Này Vật chủ, nếu người nào có mười chi, Ta chủ trương rằng người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực”.

Phật thuyết như vậy. Ngũ Chi Vật chủ và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Tương đương Pāli, M.78 Samaṇamaṇḍikā-sutta.
[02] Ngũ Chi Vật chủ 五 支 物 主, Pāli: Pancakaṅga thapati, một người thợ mộc.
[03] Nhất sa-la mạt-lị dị học viên 一 娑 邏 未 利 異 學 園; Pāli: yena samayappavādo tindukāciro ekasālako Mallikāya aeāmo tena…, đi đến khu vườn Mallika, tại nhà hội Ekasālaka có hàng cây tinduka bao quanh (xem chú thích 5 ở dưới).
[04] Cân-đầu-a-lê 巾 頭 阿 梨; xem cht.5 dưới đây.
[05] Mallikārāma, là một khu rừng để thưởng ngoạn ở trong thành Sāvatthi của hoàng hậu Mallikā (Mạt-lị phu nhân). Tại đây, trước tiên chỉ có một ngôi nhà độc nhất, nhưng sau được du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda dựng lên nhiều cái nữa, do đó được gọi là Ekasālaka (Hán: Nhất sa-la); với hàng rào bằng cây Tinduka (tên khoa học: Diospyros embryopters) nên cũng được gọi là Tindukācirā ( Hán: cân-đầu-a-lê). Khu vườn cũng được gọi là Samayappavālaka, một hội trường để tranh luận các vấn đề tà chánh.
[06] Sa-môn Văn-kì Tử 娑 門 文 祁 子. Pāli: Samaṇamaṇḍikāputta, con trai của Samaṇamaṇḍikā, tên thật là Uggāhamana.
[07] Súc sanh luận 畜 生 論. Pāli: tiracchāna-kathā, luận bàn phiếm, vô ích. Đoạn kế kể các đề tài được nói là Súc sanh luận.
[08] Vật chủ 物 主. Pāli: Thapati, thợ mộc.
[09] Trong bản Hán có sự nhầm lẫn về thứ tự mạng và niệm.
[10] Dục giới tưởng; đây không chỉ cho giới hệ hay cõi, mà là giới loại. Đoạn kinh này đề cập ba bất thiện giới: dục giới, sân giới, hại giới (Pāli: tisso akisala-dhātuyo, kāma-dhātu, vyāpāda-dhātu, vihiṃsa-dhātu). Xem Pháp Uẩn Túc Luận 11 (No.1537, Đại 26, trang 503c).
[11] Ba thiện giới. Xem cht.10 trên.
[12] Chánh chí, tức chánh tư duy.
[13] Chánh phương tiện, tức chánh tinh tấn.
[14] Hán: học kiến tích 學 見 跡, chỉ giai đoạn kiến đạo của hàng hữu học. Xem thêm cht. dưới.
[15] Hàng hữu học ở địa vị kiến đạo, tu tập và thành tựu tám chi Thánh đạo để thấy lý Tứ đế. Bậc A-la-hán lậu tận thành tựu mười vô học chi. Xem Tỳ-bà-sa 92 (No.1545, trang Đại 27, tr.479 a và tt).
[16] Tám vô học chi của Thánh đạo, thứ 9 vô học chánh giải thoát và 10 vô học chánh trí (xem giải thích Tập dị 20 Đại 26, trang 452 c).

-ooOoo-

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham179.htm

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 01, năm 2020 – KINH HÀ DỤC

 

中 阿 含 經
KINH TRUNG A HÀM
Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm,
Việt Dịch & Hiệu Chú: Thích Tuệ Sỹ

12. PHẨM PHẠM CHÍ
(Phần Ðầu)

149. KINH HÀ DỤC[1]

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp cô độc.

Bấy giờ, Phạm chí Sanh Văn, sau giữa trưa thong dong tản bộ đi đến chỗ Phật, chào hỏi xong, ngồi xuống một bên, bạch rằng:

“Cù-đàm, tôi có điều muốn hỏi, mong Ngài nghe cho, tôi mới dám trình bày.”

Đức Thế Tôn nói:

“Ông muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi.”

Phạm chí Sanh Văn hỏi rằng:

“Cù-đàm, người Sát-lợi ước muốn gì? Thực hành cái gì? Thiết lập bằng cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì[02]?”

Thế Tôn đáp:

“Người Sát-lợi ước muốn được tài vật, thực hành nơi trí tuệ, thiết lập bằng gươm dao[03], y cứ trên nhân dân[04], lấy tự do làm mục đích.”

Phạm chí Sanh Văn hỏi:

“Người Cư sĩ ước muốn gì? Thực hành cái gì? Thiết lập cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì?”

Thế Tôn đáp:

“Người Cư sĩ ước muốn được tài vật. Thực hành nơi trí tuệ. Thiết lập bằng kỹ thuật. Y cứ trên nghề nghiệp. Lấy sự cứu cánh của nghề nghiệp làm mục đích”.

Phạm chí Sanh Văn hỏi:

“Cù-đàm, đàn bà ước muốn gì? Thực hành cái gì? Thiết lập cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì?”

Thế Tôn đáp:

“Đàn bà ước muốn được đàn ông. Thực hành sự trang điểm. Thiết lập bằng con cái. Y cứ trên sự không đối thủ[05]. Lấy tự do làm mục đích.”

Phạm chí Sanh Văn hỏi:

“Cù-đàm, trộm cướp ước muốn cái gì? Thực hành cái gì? Thiết lập cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì?

Thế Tôn đáp:

“Trộm cướp ước muốn lấy của không cho. Thực hành nơi chỗ lén lút. Thiết lập bằng gươm dao. Y cứ nơi bóng tối. Lấy sự không bị khám phá làm mục đích “.

Phạm chí Sanh Văn hỏi:

“Cù-đàm, người Phạm chí ước muốn gì? Thực hành cái gì? Thiết lập cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì?”

Thế Tôn đáp:

“Người Phạm chí ước muốn được tài vật. Thực hành nơi trí tuệ. Thiết lập bằng kinh thơ[06]. Y cứ trên trai giới[07]. Lấy Phạm thiên làm mục đích.”

Phạm chí Sanh Văn hỏi:

“Sa-môn ước muốn gì? Thực hành cái gì? Thiết lập cái gì? Y cứ trên sự gì? Có mục đích gì?”

Thế Tôn đáp:

“Sa-môn ước muốn được chân lý[08], thực hành nơi trí tuệ, thiết lập bằng giới, y cứ trên vô xứ[09], lấy Niết-bàn làm mục đích.”

Phạm chí Sanh Văn bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã rõ. Bạch Thế Tôn, nay con xin tự quy y Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay con trọn đời tự quy y cho đến lúc mạng tận.”

Phật thuyết như vậy. Phạm chí Sanh Văn sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.

-ooOoo-

Chú thích:

[01] Bản Hán, quyển 37. Tương đương Pāli: A.6. Khattiya. Tham chiếu, Hán, No.125 (37.8).
[02] Hán: hà dục hà hành hà lập hà y hà ngật 何 欲 何 行 何 立 何 依 何 訖. Pāli: kim-adhippayā kim-upavicārā kim-adhiṭṭhānā kim-abhinivesā kim-pariyosanā, ham muốn gì, tâm niệm gì (cận hành), y cứ gì, tham vọng, cứu cánh gì?
[03] Sở lập dĩ đao 所 立 以 刀. Pāli: balādhiṭṭhānā, chấp cứ sức mạnh. Có lẽ bản Hán chép nhầm đao 刀 thay vì lực 力.
[04] Y ư nhân dân 依 於 人 民. Pāli: pathavībhinivesā, tham vọng cõi đất (chinh phục).
[05] Vô đối 無 對. Pāli: asapatī, không vợ nhỏ của chồng.
[06] Pāli: mantadhiṭṭhānā, chấp chú thuật.
[07] Hán: trai giới  齋 戒, cần hiểu là trai tự hay tế tự. Pāli: yaññābhinivesā.
[08] Hán: chân đế  真 諦. Pāli: khantisoraccādhippayā, nhẫn nhục và nhu hòa.
[09] Pāli: ākiñcanābhinivesā, vô sở hữu, không có gì.

 

 

https://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham149.htm