CÒN SINH TỬ THÌ CÒN CẦN PHƯỚC ĐỨC


Đi xa thì cần tư lương, đi trong sinh tử thì cần phước đức. Nên lòng sợ
đường dài mà thiếu phước lắm. Thiếu phước là mất cơ hội gặp người hiền,
đất lành, sinh ra gặp đời tất thảy mọi việc lận đận lao đao, thì tâm ý đâu mà
học được Phật pháp, cơ hội đâu mà sống đời an lành. Vậy nên mỗi ngày, mỗi
ngày, nguyện làm cho được một điều phước thiện.
Việc gì mà làm mình bỏ bớt được chút tham, thêm được chút rộng lượng,
bỏ được chút sân hận, thêm được chút từ bi, bỏ được chút ngu si, thêm được
phần nhìn rõ sự thật, và có thể làm cho một ai đó giữa đời này được an lành,
dù trong thoáng chốc, thì đều thành việc thiện cả. Dù là một việc lành, hay
lời nói lành, hay một ý nghĩ lành, cũng nguyện làm mỗi ngày.
Mong đời này, đời sau, có còn sinh tử, thì mong phước che chở, như dù
che mưa. Trừ khi nào lòng nguội lạnh như băng, một đời giải quyết cả sinh
lẫn tử thì thôi chẳng có bận lòng với phước nhân thiên. Chớ giờ biết đời này
chưa thể xong, sợ muôn kiếp mà không đủ phước, thì sanh tử nhọc nhằn, cơ
hội gặp Phật học pháp lại càng khó khăn.
Lòng ngại muôn trùng…
“Nếu người làm điều thiện,
Nên tiếp tục làm thêm.
Hãy ước muốn điều thiện,
Chứa thiện, được an lạc.”
Kinh Pháp Cú 118
Chúc mọi người an vui trong thiện pháp!
Namo Buddhaya
Nguyên Linh.

KHI TÔI NÓI TÔI LÀ MỘT PHẬT-TỬ


Giáo sư Richard Gombrich / Tiểu Lục Thần Phong dịch.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, đấy không có nghĩa là tôi thanh
khiết hay tử tế hơn những người khác, mà đấy có nghĩa là tôi có
quá nhiều sự mê muội vô minh và sự ô nhiễm (tinh thần) cần phải
tẩy bỏ đi. Tôi cần trí huệ của Phật-đà.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, nó không có nghĩa là tôi khôn
ngoan hơn những người khác mà có nghĩa là tôi bị sai xử quá nhiều
của sự kiêu ngạo. Tôi cần phải học sự khiêm tốn và làm tăng trưởng
cái quan điểm rộng mở hơn.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, cũng không có nghĩa là tôi tốt hơn
hay tệ hơn người khác, nhưng tôi hiểu rằng tất cả chúng sanh bình
đẳng với nhau.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, tôi biết rằng tôi chỉ yêu thích
những ai vừa ý mình, trong khi đức Phật yêu thương cả những
người không thích mình, chỉ dẫn họ đầy đủ khôn ngoan và từ bi.
Đấy là lý do tại sao tôi chọn con đường đi theo những lời dạy của
đức Phật.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, nó không phải là mục đích nhận
những cái mà tôi thích quan tâm, mà đấy là buông bỏ sự bám víu
dính mắc vào những thèm khát của thế gian.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, không có nghĩa là tôi theo đuổi đời
sống suôn sẻ, mà là chấp nhận sự vô thường và điềm tĩnh, tự tin
như một ông vua đối mặt với những sự đối nghịch bất lợi.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, tôi không có ý định tác động đến
kẻ khác để tự tư tự lợi cho bản thân, mà là sử dụng trí huệ khôn
ngoan để làm lợi ích cho mình cũng như cho người, đồng thời cảm
thông với tất cả hữu tình chúng sanh


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, không có nghĩa là tôi lánh đời ly
khỏi thế gian theo đuổi sự hư vô, mà là tôi biết sống mỗi ngày với
giáo pháp, sống với hiện tại và thực hành giáo pháp.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, điều ấy không có nghĩa là cuộc đời
tôi sẽ không còn những thất bại nữa, với giáo pháp thì những thất
bại sẽ chuyển hóa thành nguyên nhân cho sự trưởng thành của tôi.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, trái tim tôi được chứa đầy lòng
biết ơn vô hạn. Tôi nghĩ tôi vốn được sinh ra với tư cách một con
người, có đầy đủ cơ hội để thực hành giáo pháp trong đời này, có
nhiều cơ hội gặp được những vị thầy thông thái và nghe những lời
dạy của đức Phật. Tôi xúc động sâu xa với nghiệp ái lực khó tin
này.


Khi tôi nói tôi là một Phật-tử, không có nghĩa là thượng đế ở bên
ngoài tôi, mà là tôi tìm thấy Phật tánh trong trái tim tôi.

MƯỜI THỨ TIỀN KHÔNG MUA ĐƯỢC


Jordi Al Emany là người sáng lập một công ty tư nhân. Vừa qua, ông đã
đăng một bài trên mạng xã hội, nói rằng tiền tài không phải vạn năng.
Có 10 thứ cho dù có gia tài bạc triệu cũng không mua được. Bài viết đã
nhanh chóng nhận được sự hoan nghênh trên cộng đồng mạng, mọi người
đều tán thành. Chúng ta hãy cùng xem, rốt cuộc là những điều gì mà cho dù
là tỉ phú thế giới cũng không thể mua được?

  1. Khỏe mạnh – Đạt Lai Lạt ma:
    Nhân loại, vì kiếm tiền mà hy sinh sức khỏe. Vì chữa bệnh mà hy sinh
    tiền tài. Sau đó, vì lo lắng tương lai nên không cách nào hưởng thụ hiện tại.
    Cứ như vậy mà không cách nào sống cho hiện tại. Khi còn sống, họ quên
    rằng cuộc đời là ngắn ngủi. Đến khi chết, mới phát hiện mình chưa từng một
    lần sống thật tốt.
  2. Tình thương – Tagore:
    Lúc thoát khỏi cảnh nghèo khó, chúng ta sẽ có được tiền tài của mình
    nhưng để có được khoản tiền này, chúng ta đã mất đi bao nhiêu thiện tâm,
    bao nhiêu cái đẹp và bao nhiêu sức lực chứ!
  3. Niềm vui – Nhà chính trị, nhà khoa học về vật lý, điện từ, nhà phát minh
    Mỹ Franklin:
    Tiền tài không thể khiến người ta vui vẻ, vĩnh viễn sẽ không vì trong bản
    chất của nó không hề tồn tại cái gọi là vui vẻ. Người có được càng nhiều, lại
    càng muốn nhiều hơn.
  4. Chính trực – Nhà tiểu thuyết người Anh – Douglas Adams:
    Lúc thật sự phục vụ người khác, điều cần thiết mà tiền tài không thể nào
    mua sắm hay đong đếm, đó chính là sự chân thành và chính trực.
  5. Tôn trọng – Nhà triết học người Mỹ – Ayn Rand:
    Tiền tài là công cụ để tồn tại, thái độ của bạn đối với công việc cũng chính
    là thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính mình. Nếu công việc kiếm sống
    là sa đọa, bạn đã hủy diệt ý nghĩa tồn tại của chính mình.
    Bạn đã từng cầm qua đồng tiền bất nghĩa chưa?
    Đã từng vì giành thêm chút lợi nhuận mà giễu cợt người khác chưa?
    Hoặc là hạ thấp tiêu chuẩn đạo đức của mình? Vì để có thể sống qua ngày bạn đã làm những việc không nên làm?
    Nếu là như vậy, tiền tài cũng không mang đến dù chỉ một chút niềm vui.
    Đồ vật bạn mua sẽ trở thành một loại sỉ nhục mà không phải là kính trọng;
    là một loại căm hận mà không phải thành tựu. Như vậy, bạn sẽ cho rằng tiền
    tài là một loại tội ác bởi vì bạn không thể nào có được sự tự tôn từ nó.
  6. Nội tâm thanh tĩnh – Doanh nhân nổi tiếng tại Mỹ – Richard M. DeVos:
    Tiền tài không thể nào mua được sự thanh bình trong nội tâm, nó không
    thể chữa trị mối quan hệ bị xé rách, hoặc làm cho cuộc sống không ý nghĩa
    trở nên ý nghĩa.
  7. Đạo đức – Ký giả kiêm tác giả người Mỹ – George Lorimer:
    Thứ có thể mua được bằng tiền dĩ nhiên là tốt nhưng không nên quên
    rằng điều không thể mua được bằng tiền sẽ càng tốt hơn.
  8. Giáo dục – Phóng viên kiêm tác giả người Mỹ – Neil de Grasse Tyson:
    Con người không dùng sự cảm thông và chia sẻ để cảm nhận tình cảm
    và ý nghĩ của người khác hay những sinh vật khác trên trái đất, có lẽ giáo
    dục chính quy của chúng ta nên thêm vào giáo dục sự cảm thông và chia
    sẻ. Thử tưởng tượng, nếu giáo dục gồm có đọc, viết, toán học, cảm thông
    và chia sẻ, thì thế giới này sẽ không còn như cũ nữa.
  9. Trí tuệ – Steve Jobs nhà sáng lập Apple:
    Tôi không phải vì kiếm tiền mà quay về Apple. Thần may mắn vẫn luôn
    quan tâm đến tôi; năm 25 tuổi, tôi đã kiếm được tài sản 100 triệu đô-la. Lúc
    ấy rất rõ ràng rằng tôi sẽ không bị tiền tài nô dịch. Bởi vì tôi chắc chắn không
    có khả năng tiêu hết số tiền kia, hơn nữa, tôi cũng không dùng tiền tài để
    kiểm chứng trí tuệ của mình.
  10. Giác ngộ tâm linh – Bodhi Mind:
    Tiền tài có thể mua phòng ốc để ở nhưng không thể mua được một mái
    nhà ôn hòa; nó có thể mua một chiếc giường nhưng không mua được một
    giấc ngủ thoải mái dễ chịu; nó có thể mua một chiếc đồng hồ nhưng không
    mua được thời gian; nó có thể mua được quyển sách nhưng không mua
    được tri thức; nó có thể mua máu huyết nhưng không mua được sức khỏe.
    Vì vậy, tiền tài không phải là vạn năng.

LỜI HAY Ý ĐẸP

  1. Một cốc nước sạch vì một giọt nước bẩn mà trở nên vẩn đục,
    nhưng một cốc nước đục không thể vì một giọt nước sạch mà trở
    nên tinh khiết.
  2. Nếu Bạn thực sự tài năng thì Bạn sẽ không sợ mình không có
    may mắn.
  3. Đừng sợ đi chậm. Chỉ sợ đứng yên.
  4. Trên đời không có sự phân biệt rõ ràng giữa bi kịch và hỷ kịch.
    Nếu Bạn có thể bước ra từ bi kịch, đó là hỷ kịch.
    Nếu Bạn chìm đắm mãi trong hỉ kịch, đó là bi kịch.
  5. Nếu không đọc sách, đi vạn dặm đường chẳng qua cũng chỉ
    là một người đưa thư.
  6. Cái khuy áo đầu tiên sai, cái sau cùng khó mà chữa được.
  7. Bạn bè thực sự không phải là những người có thể ngồi với
    nhau nói chuyện cả ngày không hết mà là những người ngay cả
    khi chẳng nói với nhau câu nào vẫn không cảm thấy ngại ngùng.
  8. Ngựa thường dễ bị khuỵu chân trên những con đường đất
    mềm, con người dễ ngã gục trong những lời đường mật.
  9. Đừng sợ rằng Bạn không biết một cái gì đó. Hãy sợ rằng Bạn
    không chịu tìm hiểu về nó.
  10. Thời gian tốt nhất để trồng cây là vào 20 năm trước.
    Thời gian tốt thứ hai là ngay bây giờ.
    Hy vọng với 10 câu nói hay của người Do Thái trên có thể giúp
    Bạn thay đổi và phát triển bản thân mỗi ngày, vượt qua mọi khó
    khăn trở ngại trong cuộc sống, để có một cuộc sống hạnh phúc và
    thành công hơn.

RỒI TÔI SẼ HẠNH PHÚC


Lúc tôi khoảng 14 tuổi, đang học trung học ở Luân Đôn. Cha mẹ và thầy
giáo khuyên tôi đừng đi chơi đá banh buổi tối và cuối tuần mà nên ở nhà học
bài để lo thi bằng trung học đệ nhất cấp.
Họ nói là khi thi đậu thì tôi sẽ cảm thấy sung sướng, hạnh phúc.
Tôi nghe lời, lo học và thi đậu, nhưng tôi chẳng thấy hạnh phúc gì cả, vì
sau đó phải học tiếp hai năm để thi tú tài.
Cha mẹ và các thầy giáo khuyên tôi đừng đi chơi với bạn bè buổi tối hoặc
chạy theo con gái cuối tuần mà nên ở nhà lo học bài.
Họ nói bằng tú tài rất quan trọng, nếu thi đậu thì tôi sẽ sung sướng, hạnh
phúc.
Một lần nữa, tôi lại vâng lời cha mẹ và các thầy giáo nên tôi thi đậu tú tài.
Nhưng lại một lần nữa, tôi chả thấy sung sướng gì hết, vì sau đó tôi phải
tiếp tục vào đại học, học ít nhất ba năm để lấy bằng cử nhân.
Má tôi và các giáo sư (lúc này ba tôi đã mất) khuyên tôi không nên lân la
ở các quán cà phê hoặc phòng trà, mà nên ở nhà lo học.
Họ nói bằng cử nhân là một bằng cấp giá trị của đại học, nếu có được thì
tôi sẽ hạnh phúc lắm.
Nhưng lần này tôi bắt đầu nghi ngờ. Bởi vì tôi có vài người bạn lớn tuổi
hơn, đã học xong và có bằng cấp, nhưng hiện nay họ đang vất vả với những
việc làm đầu tiên; có người phải làm thêm giờ để có tiền mua xe.
Những người bạn này nói với tôi: “Khi nào tôi có đủ tiền mua được một
chiếc xe hơi thì tôi sẽ sung sướng”.
Đến khi họ có đủ tiền mua được chiếc xe hơi rồi, tôi thấy họ cũng chẳng
sung sướng gì hơn.
Bây giờ họ phải làm việc cực hơn để sửa soạn mua một cái gì đó, hoặc
họ đang tìm kiếm một người bạn đời.
Họ nói: “Khi nào tôi lập gia đình đàng hoàng thì lúc đó tôi sẽ hạnh phúc”.
Sau khi lập gia đình, họ cũng chẳng hạnh phúc gì hơn. Tệ hơn nữa, họ
phải làm thêm hai, ba công việc, lo để dành tiền mua nhà.
Họ nói: “Khi nào mua được một căn nhà thì tôi hạnh phúc lắm”.
Nhưng mua được nhà rồi, hàng tháng vẫn phải trả nợ ngân hàng, như
thế thì đâu có hạnh phúc gì.
Ngoài ra họ bắt đầu sinh con đẻ cái. Nửa đêm con khóc phải dậy thay tã
hay cho nó bú.
Khi con bệnh hoạn thì bao nhiêu tiền để dành phải trút ra lo thuốc men
cho nó.
Và rồi hai mươi năm trôi qua trước khi họ có thể làm những gì mong ước.
Họ nói: “Khi nào con cái tôi học xong, có nghề nghiệp và tự lập được thì
chúng tôi sẽ hạnh phúc”.
Đến khi tụi nó rời khỏi nhà ra riêng thì lúc đó đa số cha mẹ sắp đến tuổi
về hưu.
Do đó họ ráng làm tiếp vài năm để lãnh tiền hưu trí nhiều hơn.
Họ nói: “Khi nào tôi về hưu thì lúc đó mới thật là sung sướng, hạnh phúc”.
Nhưng trước khi về hưu, và ngay cả sau khi về hưu, họ bắt đầu biết đạo
và đi nhà thờ.
Bạn có để ý đa số những người đi nhà thờ là những người lớn tuổi không?
Tôi hỏi tại sao bây giờ họ lại thích đi nhà thờ?
Họ trả lời: “Tại vì sau khi chết, tôi sẽ được hạnh phúc!”
Những ai nghĩ rằng “khi nào tôi có được cái này, cái nọ thì tôi sẽ hạnh
phúc”, họ không biết rằng hạnh phúc đó chỉ là một giấc mơ trong tương lai.
Giống như người đuổi theo cái bóng của mình, họ sẽ không bao giờ nếm
được hạnh phúc trong cuộc đời.
Thích Trí Siêu trích dịch từ sách
“Who ordered this truckload of dung?”
của Ajahn Brahm.

ĐỘNG TĨNH NHƯ NHIÊN


Một bữa học trò tới hỏi Thầy:

  • Thưa Thầy, mấy bữa nay lòng con không yên, tâm con động.
    Làm sao đây?
    Thiền Sư:
  • Động thì cứ động, sao phải mong tĩnh.
    Vài bữa sau, học trò lại chạy tới:
  • Mấy hôm rày con ngắm trời xanh trong, nước suối văn vắt,
    thấy lòng yên tĩnh lạ thường.
  • Tĩnh thì cứ tĩnh sao phải nói ra thành động.
  • Bao năm rồi con theo Thầy, nhưng tự cảm thấy chưa hiểu được
    gì.
    Lòng con lúc tĩnh, lúc rối…
    Thiền Sư:
  • Ta cũng như con, lúc rối lúc tĩnh… Nhưng ta không thấy phải
    nói ra điều đó thành ngôn ngữ. Ta chỉ… như ngồi yên trên CON
    THUYỀN Ý THỨC, mặc cho sóng lòng chao đảo hay yên bình.
    (Sưu Tầm)

ĐIỂN CỐ BÁT-CA ĐẮC ĐẠO


Ngày xưa, tại một ngôi chùa nọ, có một vị thiền sư trụ trì tu luyện đã mấy
chục năm trời ròng rã, nhưng không hiểu vì sao vẫn chưa đắc đạo. Mặc dù
thiền sư này không kể ngày đêm sớm tối, quanh năm suốt tháng cần lao
gian khổ gõ mõ tụng kinh, ăn chay niệm Phật và luôn phát tâm nguyện từ bi
hỷ xả với tất cả chúng sinh, không bao giờ dám phạm vào những điều cấm
kỵ của giáo lý nhà Phật.
Rồi một ngày kia, có một đám trẻ đang nghịch ngợm kéo tới leo lên trên
cây đa cao lớn sum suê trước cổng chùa để phá và bắt một tổ chim Bát-ca[1]
mới nở trong một cái hốc cây đa. Sau khi lũ trẻ đã bỏ đi, một chú tiểu trong
chùa ra gốc cây đa quét lá rụng, thì bỗng phát hiện một con chim Bát-ca còn
non bị thương rất nặng rơi dưới gốc cây. Chú tiểu nhìn con chim Bát-ca non
nớt còn chưa mọc đủ lông cánh đang bị lũ kiến bâu vào đốt thì động lòng
thương xót, liền nhặt lấy mang vào trong chùa bẩm với sư cụ. Vị thiền sư
bèn ra sức chạy chữa và chăm sóc cho con Bát-ca.
Sau một thời gian được sư cụ chăm sóc thì con Bát-ca từ từ hồi phục và
trở nên khỏe mạnh như thường. Sư cụ bèn nhờ một Phật tử ra chợ mua một
cái lồng chim để nhốt con Bát-ca vào đó, rồi treo lồng chim ngay bên cạnh
căn phòng nơi mình vẫn ngồi tụng kinh gõ mõ hàng đêm. Con Bát-ca dần
dần lớn lên trong tiếng gõ mõ, tiếng tụng kinh và tiếng chuông chùa đều đặn
hàng ngày của sư cụ, vì thế dần dần nó nghe và bắt chước được cả tiếng
người, tiếng mõ và tiếng chuông.
Cứ tối đến, mỗi khi bắt đầu nghe tiếng mõ, tiếng chuông và tiếng tụng
kinh đều đều của sự cụ rền rĩ vang lên, là con chim Bát-ca cũng bắt chước
bập bẹ đọc theo: “Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật…
cốc cốc… cốc… boong”.
Lâu ngày thành thói quen, có những lần sư cụ bị bệnh nặng, không thể
dậy để tụng kinh gõ mõ được, nhưng cũng cứ đến đúng giờ đó là con chim
Bát-ca lại tự giác nhớ tới nhiệm vụ tụng kinh, gõ mõ, đánh chuông và niệm
Phật của mình:
“Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô A Di Đà Phật… cốc cốc cốc…
boong”.
Nhưng chỉ được khoảng năm sáu năm thì con Bát-ca già yếu, nó cứ ăn
ít dần rồi một ngày kia tự nhiên lăn ra chết. Sư cụ thương xót con chim lắm,
mới đem xác nó ra chôn tại một góc vườn sau chùa. Thời gian thấm thoắt
thoi đưa, rồi vì quá bận rộn với việc tu hành, sư cụ cũng lãng quên dần hình
ảnh của con Bát-ca lúc nào không biết.
Khá lâu sau, nhân một lần ra thăm vườn, sư cụ bất chợt nhớ tới con chim
Bát-ca nhỏ bé tội nghiệp, bèn tới góc vườn nơi chôn con Bát-ca để thăm lại
nấm đất khi trước do chính tay sư cụ đắp cho nó. Lúc tới nơi sư cụ bỗng
bàng hoàng sửng sốt khi nhìn thấy ngay trên đầu nấm mộ của con Bát-ca
có một bông hoa sen đang nở.
Sư cụ lặng người bần thần suy nghĩ: Như vậy chứng tỏ con Bát-ca không
tu mà đã đắc đạo, Phật tổ đã biết tới tấm lòng chí thành của nó! Như vậy
chứng tỏ muốn đắc đạo, lòng người phải thật sự vô tư trong sáng, không
được có một chút mảy may tự tư vị lợi. Cầu mà giống như không cầu, không
cầu mà giống như cầu. Tu mà giống như không tu, không tu mà giống như
tu! Cái lẽ “sắc sắc không không” của nhà Phật thật là rộng lớn, thật là sâu
sắc, huyền diệu vô biên mà khó lắm thay! Cửa Phật tiếng là “Từ bi phương
tiện”, nhưng thực sự bước vào được không dễ chút nào!
Sư cụ chợt như bừng tỉnh! Thì ra, sau mấy chục năm trời khổ công tu
luyện, tới nay tuổi đã cao, sức đã yếu, cho đến khi đứng trước nấm mồ của
chim Bát-ca đã đắc đạo này, sư cụ mới ý thức được rằng trong suốt cuộc
đời tu luyện của mình, hôm nay mới là ngày đầu tiên sư cụ thực sự giác ngộ
ra được phần nào giáo lý của đạo Phật.
Thế rồi buổi tối hôm đó, trước khi tụng kinh gõ mõ như thường lệ, người
vừa gõ mõ thỉnh chuông vừa cất giọng rền rĩ, đều đều đọc một bài kệ không
có trong kinh Phật:
Hữu nhất phi cầm khiếu Bát-ca,
Vãn thượng tùy tăng niệm A Di…
Tử mai bình địa liên hoa phát,
Ngã bối vi nhân phản bất như!
Nam mô A Di Đà Phật… cốc… cốc… boong!
Tạm dịch nghĩa như sau:
Có một con chim gọi Bát-ca,
Tối tối theo sư niệm Di Đà…
Chết rồi trên mộ hoa sen mọc,
Chẳng tu đắc đạo lại hơn ta!
Nam mô A Di Đà Phật… cốc cốc… boong!

  • Nguyễn Văn Nghĩa –
    Trích: Suối nguồn, Số 1.T5/2011
    Chú thích: Từ Hán Việt gọi chim Bát-ca, dân gian gọi là chim Sáo.

NHỮNG LỜI PHẬT DẠY


Một hôm, Đức Phật đang ngồi nói chuyện với các môn đồ ở bên dưới một
cái cây to thì đột nhiên có một người đàn ông đi tới và nhổ nước bọt vào mặt
Ngài. Song trái lại với mọi dự đoán, Đức Phật vẫn ngồi điềm tĩnh, Ngài chỉ
lau mặt và hỏi lại người đàn ông một câu:

  • Tiếp theo là gì nào?
    Trong khi đó, các môn đồ của Ngài thì rất tức giận. Môn đồ gần gũi nhất
    với Đức Phật là Ananda nói:
  • Thế này là quá lắm. Chúng ta không thể tha thứ cho hành động vô lễ
    này. Cần phải trừng trị hắn, nếu không những kẻ khác sẽ lại bắt chước điều
    đó.
    Nhưng Đức Phật đã trấn an Ananda:
  • Ngươi hãy im lặng đi. Anh ta không khiến Ta thấy phiền, nhưng ngươi
    thì có. Anh ta là một người mới, là người ta không quen biết.
    Hẳn anh ta đã nghe người khác nói gì đó về Ta, rằng Ta là một người
    đạo đức giả, một người nguy hiểm, khiến người ta đi chệch hướng, một kẻ
    xấu xa. Và có thể trong đầu anh ta đã hình thành một định kiến về Ta. Anh
    ta không nhổ nước bọt vàoTa, mà vào hình ảnh mà anh ta nghĩ ra trong đầu.
    Anh ta nhổ nước bọt vào hình ảnh đó vì anh ta không hiểu Ta. Nếu suy
    nghĩ kỹ, ngươi sẽ thấy người đàn ông đáng thương này hẳn là có điều gì đó
    muốn nói, đây là cách anh ta bày tỏ điều đó. Nhổ nước bọt là cách để anh
    ta nói điều gì đó.
    Có những lúc, khi Ta thấy bất lực với ngôn từ, Ta sẽ dùng hành động để
    biểu đạt. Ta có thể hiểu được anh ta. Vì thế, Ta mới hỏi anh ta rằng “Tiếp
    theo là gì nào?”.
    Ta cảm thấy rất thất vọng, không phải vì anh ta, mà vì các ngươi. Đã đi
    theo Ta nhiều năm như vậy rồi, mà các ngươi vẫn còn có cách phản ứng
    như vậy.
    Trước phản ứng bất ngờ này, người đàn ông như đứng chết trân tại chỗ.
    Anh ta chưa từng gặp chuyện như vậy trong đời. Anh ta đã từng sỉ nhục rất
    nhiều người và họ đều phản ứng lại tương tự.
    Với những kẻ hèn nhát và yếu thế, họ cố cười gượng rồi tìm cách lấy lòng
    anh ta. Nhưng Đức Phật thì khác. Ngài không tức giận, cũng không cố tỏ ra
    vui vẻ. Nét mặt của Ngài toát ra sự điềm tĩnh và Ngài chỉ muốn biết anh ta
    có muốn nói gì không.
    Sự sám hối của người đàn ông
    Chẳng biết nói gì nữa, người đàn ông trở về nhà. Tối đó, anh ta không
    thể ngủ được. Anh ta bị ám ảnh bởi những gì đã diễn ra. Anh ta không thể
    giải thích cho bản thân chuyện đã xảy ra.
    Anh ta run rẩy, người vã ra đầy mồ hôi. Anh ta chưa từng gặp ai như vậy.
    Đức Phật đã khiến cho thứ tâm trí rối bời, đen tối, đầy oán hận cũng như
    toàn bộ quá khứ của anh ta như bị vỡ vụn thành trăm mảnh.
    Sáng hôm sau, người đàn ông quay trở lại, phủ phục dưới chân Đức
    Phật. Đức Phật ân cần hỏi anh ta:
  • Sao nào? Đây cũng là một cách nói điều gì đó. Khi ngươi đến phủ phục
    dưới chân ta, ngươi đang muốn gián tiếp nói một điều gì đó mà ngôn từ
    dường như bất lực.
    Rồi, Đức Phật nhìn sang Ananda:
  • Ananda, người đàn ông này lại tới, anh ta đang nói điều gì đó. Anh ta là
    một người đang chất chứa rất nhiều cảm xúc.
    Mỗi con người là một dòng sông
    Người đàn ông ngẩng đầu lên nhìn Đức Phật rồi nói:
  • Xin Ngài hãy tha thứ cho những gì tôi làm hôm qua.
    Đức Phật hỏi lại:
  • Tha thứ điều gì? Nhưng ta đâu phải là người mà ngươi đã sỉ nhục. Sông
    Hằng luôn chảy không ngừng, sông Hằng của hôm nay đâu phải sông Hằng
    của hôm qua. Mỗi người đều là một dòng sông.
    Người bị ngươi sỉ nhục đã không còn ở đây. Ta chỉ giống người đó thôi,
    chứ không phải ông ta. Trong 24 giờ đồng hồ, có rất nhiều chuyện xảy ra.
    Vì thế, Ta không thể tha thứ cho ngươi, vì Ta không có gì oán hận ngươi cả.
    Và ngoài ra, ngươi cũng không phải là người đàn ông hôm qua tới đây.
    Vì anh ta lúc đó rất giận dữ, anh ta khạc nhổ vào Ta, còn ngươi thì phủ
    phục dưới chân ta. Sao 2 người các ngươi lại là một được? Vì thế, hãy quên
    chuyện đó đi. Hãy tới gần Ta hơn và nói về chuyện khác.
    LỜI BÀN:
    Là một trong số những giai thoại về Đức Phật được nhiều người kể lại, câu
    chuyện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng và to lớn trong việc giáo dục cách ứng
    xử giữa con người với con người.
    Thông thường, người ta dễ dàng tha thứ cho bản thân, nhưng lại hà khắc trước
    những sai sót của người khác. Khi bản thân gặp chuyện không vui, người ta cho
    phép mình hành động bất cẩn, thậm chí gây tổn thương cho người khác.
    Nhưng nếu là nạn nhân, họ lại tỏ ra tức giận và khó tha thứ cho kẻ đã gây ra của
    những hành động ấy. Song, theo như lời Đức Phật nói, ai cũng là một dòng sông,
    ai cũng có những khúc mắc, những câu chuyện, những nỗi đau riêng không dễ gì
    chia sẻ được với người khác và sẽ có lúc không tránh khỏi việc vô tình, hoặc cố ý làm
    người khác tổn thương.
    Việc phản ứng lại một cách gay gắt không những không giải quyết được vấn đề,
    mà còn làm mâu thuẫn ngày càng trở nên sâu sắc, khó hòa giải.
    Hiểu được điều này, giữ được sự bình tĩnh, bỏ qua được bề nổi của sự việc, tìm
    hiểu nguồn cơn không chỉ là một cách làm thông minh, giúp giải quyết tận gốc vấn
    đề, mà còn giúp ta nhận được Sự Tôn Trọng từ người khác.
    Đó mới chính là phần thưởng vô giá.
    Ngoài ra, câu chuyện cũng bao gồm một ngụ ý mang tính triết học:
    Mỗi con người là một dòng sông. Ngày hôm qua, hôm nay và ngày mai, ta đều
    là những con người khác nhau. Hãy để những phiền muộn, những sai lầm theo
    những dòng chảy, trôi về quá khứ. Đừng mãi ám ảnh bởi những gì đã xảy ra, đừng
    sợ sự thay đổi, mà hãy luôn ngẩng cao đầu, đối diện và hướng tới những thay đổi
    tích cực ở phía trước.
    Trích Sống sung sướng

TRỞ LẠI MÁI NHÀ XƯA

hay ẨN DỤ CON CHIM TÌM BỜ
TRONG KINH ĐIỂN

Câu chuyện về gã cùng-tử trong kinh Pháp Hoa là một ẩn dụ sinh động,
mô tả về một người vốn giàu có mà cứ tưởng mình thật sự là kẻ nghèo
hèn. Vấn đề là cho đến khi nào chàng cùng tử ấy mới hội đủ điều kiện,
nhân duyên để phản tỉnh và nhận ra mình vốn có kho tàng trong chéo áo.
Cũng vậy, có những kho tàng minh triết, có những đấng phạm hạnh, có
những bậc thiện lành vốn đang hiện hữu ở ngay đây, trong cuộc sống này
nhưng chúng ta cứ mãi mê tìm kiếm ở đâu khác. Câu chuyện con chim
tìm bờ được Phật nêu dẫn trong kinh là một trưởng hợp như vậy.
Điều đặc biệt là, câu chuyện con chim tìm bờ đều xuất xuất hiện trong
cả hai truyền thống kinh điển, từ Pāli cho đến Hán tạng.
Kinh Trường Bộ số 11 (Kevaddha Sutta) ghi:
Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải thương khi đi thuyền vượt biển thường
đem theo con chim có thể thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa
không trông thấy bờ, các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ.
Con chim bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về
phía Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim thấy
bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim không thấy
bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền. (HT. Thích Minh Châu, dịch).
Tương tự, kinh Trường A-hàm số 24, Kinh Kiên Cố ghi:
Này Tỳ-kheo, ví như người lái buôn mang con chim ưng cùng đi
biển[1]. Khi ra giữa biển khơi thì thả con chim ra. Chim bay giữa hư không,
trông khắp cả bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, nếu nhìn thấy đất liền thì
liền đáp xuống, nếu không thấy bờ thì chim sẽ bay trở lại đáp xuống
thuyền. (Trung tâm Trí Tịnh, dịch).
Theo kinh Kiên Cố, có vị tỳ-kheo thành tựu thần thông nhưng cứ mãi
đắm mình trong suy nghĩ: Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do
đâu mà diệt hẳn [2]?
Từ suy nghĩ này, đáng lý phải hỏi ngay đức Thế Tôn đang hiện hữu
bên cạnh nhưng thầy tỳ-kheo ấy lại hướng vào Thiên giới để tham vấn các
vị thiên thần.
Lần lượt, thầy ấy tham vấn từ Tứ Thiên Vương [3], chư Thiên cõi trời
Đao-lợi[4], chư Thiên cõi trời Diệm-ma [5]…cho đến cõi Phạm Thiên.
Khi đến cõi Phạm Thiên, Tỳ-kheo kia liền đến hỏi Phạm Vương:
“Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn?”
Đại Phạm Vương kia đáp:
“Ta là Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng, thống lãnh cả nghìn
thế giới, giàu sang quyền quý, rất tự tại, có thể tạo ra muôn loài, là cha mẹ
của tất cả chúng sanh.”
Khi đó, Tỳ-kheo kia nói:
“Tôi không hỏi việc đó, tôi chỉ muốn hỏi bốn đại đất, nước, lửa, gió do
đâu mà diệt hẳn?”
Này con trai trưởng giả! Phạm Vương kia vẫn cứ đáp:
“Ta là Đại Phạm Thiên Vương, không ai sánh bằng,… cho đến có thể
tạo ra muôn loài, là cha mẹ của tất cả chúng sanh.”
Vị Tỳ-kheo lại hỏi:
“Tôi không hỏi điều đó, tôi chỉ muốn hỏi bốn đại do đâu mà diệt hẳn
thôi!”
Này con trai trưởng giả! Phạm Thiên Vương kia đáp ba lần như thế,
nhưng vẫn không trả lời được câu hỏi của Tỳ-kheo ấy là bốn đại do đâu
mà diệt hẳn. Lúc đó, Đại Phạm Vương bèn nắm tay phải của Tỳ-kheo, dẫn
tới chỗ vắng và nói:
“Này Tỳ-kheo! Hiện nay, các Phạm Thiên đều tôn ta là người có trí tuệ
bậc nhất, điều gì cũng biết, cũng thấy nên ta không thể trả lời với thầy
rằng ta không thấy, không biết bốn đại do đâu mà diệt hẳn.”
Rồi lại nói tiếp với Tỳ-kheo rằng:
“Thầy thật quá dại khờ nên mới bỏ Như Lai mà tìm đến chư Thiên để
hỏi việc này! Thầy nên trở lại hỏi Thế Tôn việc này. Đức Phật dạy như
thế nào, thầy hãy khéo léo thọ trì như vậy.
Hiện nay, Thế Tôn đang ngự tại vườn ông Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ.
Thầy hãy mau đến đó mà hỏi[6].”
Với năng lực thần thông của mình, thầy tỳ-kheo chỉ trong khoảnh khắc
quay trở về chốn cũ, vườn Cấp-cô-độc, rừng Kỳ-đà, nước Xá-vệ để gặp
đức Phật. Nhân đó đức Phật đã viện dẫn ví dụ con chim tìm bờ nêu trên
và hóa giải mối nghi của vị tỳ-kheo kia bằng bài kệ:
Bốn đại này do đâu,
Diệt sạch không còn dấu? [7]
Sắc thô, tế, đẹp, xấu,
Dài, ngắn, diệt do đâu?
Do đâu không danh, sắc,
Diệt hẳn, không dư tàn? [8]
Nên đáp: Thức vô hình,
Vô lượng, tự tỏa sáng [9].
Thức diệt, bốn đại diệt,
Thô, tế, đẹp, xấu diệt,
Danh, sắc này cũng diệt,
Thức diệt, tất cả diệt [10].
Trong câu chuyện này, ngoài việc hóa giải tồn nghi cho vị tỳ-kheo:
Thân này, với bốn đại đất, nước, lửa, gió, do đâu mà diệt hẳn? Điều đặc
biệt là, qua ẩn dụ con chim tìm bờ nêu trên, đã cho thấy đức Phật là một
bậc quán thông về lịch sử văn minh của đất nước Ấn Độ.
Vì lẽ, trong quá trình khai quật di chỉ lịch sử Mohenjo-Daro ở Pakistan,
thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn (The Indus Valley Civilisation), có
niên đại 2.800 trước tây lịch cho đến 1.800 trước tây lịch, các nhà khảo
cổ đã phát hiện ra một bức phù điêu ghi nhận về ẩn dụ con chim tìm bờ,
tạm định danh là Con thuyền Disha Kaka với con chim định hướng (Disha
Kaka Boat with Direction Finding Birds). Tư liệu lịch sử quý giá này hiện
được bảo tồn ở Bảo tàng quốc gia Ấn Độ (India National Museum) tại
New Delhi.
Từ một ví dụ sinh động trong kinh được xác thực bằng hiện vật lịch sử
có niên đại gần ba ngàn năm, đã góp phần minh chứng, kinh điển của Phật
giáo không những là kho tàng văn hóa vĩ đại của nhân loại mà còn đồng
thời khẳng định rằng, lời dạy của Đức Phật là chân lý không bị hạn cuộc
bởi thời gian.
Chúc Phú


[1] Nguyên tác Tí ưng nhập hải (臂鷹入海): Thương nhân đi biển mang theo con chim
tìm bờ.
[2] Thử thân tứ đại, địa, thủy, hỏa, phong, hà do vĩnh diệt (此身四大, 地, 水, 火, 風何
由永滅?
[3] Tứ thiên vương (四天王 – Cātummahārājikā devā): Tầng thứ nhất trong sáu tầng
trời cõi Dục.
[4] Đao-lợi (忉利 – Tāvatiṁsa): Tầng thứ hai trong sáu tầng trời cõi Dục.
[5] Diệm-ma (焰摩 – Yāma): Còn gọi Dạ-ma (夜摩), tầng thứ ba trong sáu tầng trời cõi
Dục.
[6] Kiên Cố kinh 堅固經 (T. 01. 0001. 24. 0101b14). Bản dịch của Trung tâm Trí Tịnh.
[7] Tham chiếu, D.11: Kattha āpo ca paṭhavī tejo vāyo na gādhati? (Ở đâu, địa đại,
thủy đại, hỏa đại, phong đại không có chân đứng? HT. Thích Minh Châu, dịch)
[8] Tham chiếu, D.11: Kattha nāmañ ca rūpañ ca asesaṃ uparujjhati? (Chỗ nào cả danh
và sắc tiêu diệt hoàn toàn? HT. Thích Minh Châu, dịch)
[9] Nguyên tác Thức vô hình, vô lượng tự hữu quang (識無形,無量自有光). Tham
chiếu, D.11: Viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ. (Thức là không thể thấy,
vô biên, biến thông hết thảy xứ. HT. Thích Minh Châu, dịch). Kinh Trung A-hàm, kinh
Phạm Thiên thỉnh Phật, số 78, ghi: Thức vô lượng cảnh giới (識無量境界).
[10] Tham chiếu, D.11: Vññāṇassa nirodhena eth’ etaṃ uparujjhatīti (Khi thức diệt, ở
đây mọi thứ đều diệt tận. HT. Thích Minh Châu, dịch).

BIẾT RÕ VIỆC ĐANG LÀM

Trong bài kinh Tứ niệm xứ, Bốn lãnh vực quán niệm, đức Phật có
dạy cho chúng ta cách thực tập chánh niệm như sau,
“Khi đi, vị khất sĩ lại cũng ý thức rằng mình đang đi; khi đứng, ý
thức rằng mình đang đứng; khi ngồi, ý thức rằng mình đang ngồi; khi
nằm, ý thức rằng mình đang nằm. Bất cứ thân thể mình đang được sử
dụng trong tư thế nào, vị ấy cũng ý thức được về tư thế ấy của thân
thể…
Khi đi tới hoặc đi lui, vị khất sĩ cũng biết rõ việc mình đang làm; khi
nhìn trước nhìn sau, cúi xuống, duỗi lên, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức
sáng tỏ ấy; khi mặc áo, mang bình bát, vị ấy cũng chiếu dụng ý thức
sáng tỏ ấy; khi ăn cơm, uống nước, nhai thức ăn, nếm thức ăn, vị ấy
cũng chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi đại tiện, tiểu tiện, vị ấy cũng
chiếu dụng ý thức sáng tỏ ấy; khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói
năng, hoặc im lặng, vị ấy cũng biết rõ việc mình đang làm.”
“Furthermore, when going forward and returning, he makes
himself fully alert; when looking toward and looking away… when
bending and extending his limbs… when carrying his outer cloak, his
upper robe, and his bowl… when eating, drinking, chewing, and
savoring… when urinating and defecating… when walking, standing,
sitting, falling asleep, waking up, talking, and remaining silent, he
makes himself fully alert.”
Biết rõ việc mình đang làm
Trong đoạn kinh ấy, Phật dạy chúng ta hãy đem chánh niệm vào tất
cả những việc mình làm trong đời sống hằng ngày. Ngài không bỏ ra
ngoài bất cứ một việc làm nhỏ nhặt nào hết, thận trọng và chú tâm
mỗi khi làm một gì, dù có tầm thường đến đâu, “vị ấy cũng biết rõ việc
mình đang làm”, he makes himself fully alert.
Theo như lời dạy thì trong bất cứ một hoàn cảnh nào, dù có thể là
ngay giữa những khó khăn hay khổ đau, chúng ta cũng vẫn có thể tu

tập được. Vì bất cứ một việc làm nào của ta cũng có thể giúp mình tiếp
xúc được lại với sự vận hành của pháp. Điều kiện giác ngộ đang có mặt
ở mọi nơi chung quanh ta, nếu như ta đừng nắm bắt hay xua đuổi một
kinh nghiệm nào, và chỉ cần “biết rõ việc mình đang làm” mà thôi.
Và có lẽ Phật cũng muốn nhắc nhở rằng, thật ra chúng ta đâu cần
phải đợi chờ một hoàn cảnh thuận lợi, hay tìm kiếm một pháp môn
đặc biệt nào, mà chỉ cần có mặt và thấy rõ những tư thế, phản ứng,
cảm xúc, tâm ý của mình trong mỗi việc đang làm, ngay bất cứ nơi nào
mà mình đang có mặt.
Ta có thể nào luôn biết được chăng?
Nhưng chúng ta có thể lúc nào cũng “biết rõ việc mình đang làm”
không? Việc ấy có thể thực hiện được chăng? Trong đoạn kinh trên,
đức Phật kể ra tất cả những hành động bình thường trong đời sống
hằng ngày. Ngài không hề nói việc làm nào là quan trọng hơn việc nào,
tất cả đều cần phải được biết rõ như nhau.
Có lần trong một buổi nói chuyện, tôi có chia sẻ về đoạn kinh trên
với mọi người. Sau đó, có một bạn đến nói rằng, nếu như trong cuộc
sống hằng ngày mà ta cứ phải liên tục chú ý đến mỗi hành động chi li
của mình, thì việc ấy không thực tế chút nào, mà còn là chuyện bất khả
thi nữa!
Tôi nghĩ nhận xét của người bạn ấy cũng có phần nào đúng, chúng
ta khó có thể nào mà cứ liên tục chú tâm đến mọi việc xảy ra. Nếu như
“Ta” lúc nào cũng cứ phải chú ý đến từng hành động, mỗi việc làm của
mình, thì chắc chắn sẽ là mệt mỏi lắm. Nhưng chúng ta nên tìm hiểu
sâu hơn lời Phật dạy về việc “biết rõ việc mình đang làm”, và với một
cái nhìn rộng lớn hơn.
Với một thái độ buông thư và rộng mở
Các vị thiền sư thường hay nói về một cái tánh biết, knowing, sẵn
có trong tất cả chúng ta. Có lẽ là “Ta” sẽ không thể nào biết rõ hết mọi
việc mình đang làm, nhưng “cái biết”, knowing, tự nó có thể làm được
việc đó. Khi ta rộng mở và để yên, thì cái biết của mình sẽ phát sinh

lên tự nhiên thôi. Không cần cố gắng tai ta vẫn nghe, không cần nỗ lực
mắt ta vẫn thấy…
Mà nhiều khi, những cố gắng của ta lại thường gây nên những khó
khăn và trở ngại không cần thiết, vì đó là sự dụng công của một cái
Tôi, cái Ngã. Và thường khi hễ cái Ngã có mặt thì cái Biết tự nhiên sẽ
vắng mặt.
Ta không thể “biết rõ việc mình đang làm” bằng một sự dụng công
hay gắng sức nào, nhưng chỉ có thể bằng một thái độ buông xả và rộng
mở, cho phép những gì đang có mặt được có mặt, để thấy rõ những gì
đang xảy ra. Vì khi ta rộng mở ra, thì cái “Ta” của mình sẽ bớt đi năng
lực kiểm soát chủ quan của nó, và nhờ vậy mà cái thấy biết của mình
cũng sẽ dễ dàng có mặt hơn trong giờ phút hiện tại.
Mà thật ra ta cũng không cần trở về với giờ phút hiện tại, bởi vì hiện
tại lúc nào cũng đang hiện hữu, ta có đi nơi nào khác đâu mà cần phải
trở về? Vấn đề khởi lên khi “Ta” cố gắng để có mặt trong giờ phút hiện
tại này. Cũng như một con cá thong dong giữa đại dương lại cố gắng
trở về lại với nước, hay con chim đang bay trong không trung lại muốn
tìm kiếm một bầu trời.
Nếu như ta bớt đi sự tìm kiếm của mình thì hiện tại chỉ là một thực
tại đang-là tự nhiên thôi. Hiện tại đâu phải là một khoảng không gian
hay thời gian đóng kín hay giới hạn nào, mà ta phải cố gắng mới có
thể bước vào. Chỉ cần biết buông ra thì hiện tại nhiệm mầu sẽ có mặt.
Và được như vậy rồi thì đi đến bất cứ nơi nào, hay đang ở trong
một hoàn cảnh nào, ta cũng có một cơ hội để sống trong chánh niệm
và tỉnh giác, “when going forward and returning, he makes himself
fully alert…”
Nguyễn Duy Nhiên